Thứ Hai, 26 tháng 2, 2007

Đọc

Cậu bạn nói mình viết về việc đọc. Muốn minh định nó lâu rồi nhưng chưa có dịp thích hợp. Thôi nhặt nhạnh tạm vài thứ để ra đây đã.



- Toàn bộ đức hạnh của con người là ở con người và biểu lộ ra hễ có hai người: “
Nhân


- Thấy mình phù hợp với bản tính của mình: “Thành


- Phán xét ý thức của người xuất phát từ ý thức của chính mình – xúc tiến giác quan về đức nhân của mình và mở rộng tới những người khác: “Thứ


- Tình cảm nhân đức thật lòng: “Trung


- Nỗi lo lắng nội tâm: “Ưu


- Nỗi lo xoay xở đến từ cuộc đời, chỉ liên quan đến những phúc lợi bên ngoài: “Hoạn”.


- Vượt qua lợi ích của cá nhân và vì phúc lợi của mọi người “Đồng”/”Công


- Một tính nhậy cảm dồi dào tràn trề: “Khí hạo nhiên


- Đại nhân đứng ra cải hoá cho đời: “Bậc Thánh


- Khi đạo đức chân chính đạt tới “sung mãn”, “chắc thiệt” thì gọi là “Mỹ”. Khi mỹ đức toả sáng thì gọi là “Đại”.


- Đến lúc bậc Thánh sở hành và trí huệ “không ai hay ai biết” thì vị thánh hoà lẫn với sự “hiệu quả vô hình”: “Thần” – nó điều khiển thế giới.


- Trung Hoa: đọc là để cho văn bản “tiêu tan” trong tâm trí, thấm vào ý thức, là “thưởng thức”. Đọc không phải như một sự kết cấu lý thuyết (do đó có tính chất giả thuyết – như là hành động có suy nghĩ) mà được sống như là một quá trình (tập cho quen và đồng hoá).


(F.J)

-----------------------------------------


Phụ: lời tựa của tác giả trong tập "Tư-duy tự-do" (Phan Huy Đường)




Tư-duy tự-do




Một đặc điểm của kiến-thức triết-học[1]




Trong nguyên tác tiếng Pháp, tôi đã cố gắng viết giản dị, mong người có trình độ tú tài sẽ hiểu. Bản « dịch » này cũng vậy. Tự dịch mình, khi cần, tôi gạt qua văn bản gốc, trình bày thẳng ý bằng tiếng Việt, tránh những câu văn quá Tây, khập khiễng, khó hiểu.


Tuy vậy, có thể bạn sẽ phải đọc quyển sách này hai lần mới hiểu cạn nghĩa. Đây không phải lời nói kiêu. Chỉ là kinh-nghiệm đau đỏ của chính tôi trong lĩnh-vực đọc sách triết. Kiến-thức triết-học khá linh tinh, có khi sâu sắc, có khi vớ vẩn, luôn luôn đáng ngờ-vực. Khác hẳn kiến-thức khoa-học, ta không thể nắm bắt nó qua một quá-trình tiếp thu tuần tự. Vì thế, muốn hiểu một tác-phẩm triết, ít nhất phải đọc nó hai lần. Xin giải thích vì sao.


Trong khoa-học, ta chỉ cần học định-nghĩa của một khái-niệm một lần là ta hiểu nó. Kiến-thức ta đã tiếp thu, ta có thể sử dụng để tiếp thu tiếp những kiến-thức khác. Trừ khi ta suy-luận ở vành đai kiến-thức khoa-học đương đại, ta không cần ngờ-vực kiến-thức của ta vì mọi kiến-thức khoa-học đều hình thành trong một môi-trường lý-luận chung, đã được thử thách vững vàng qua thử-nghiệm trong nhiều thế kỷ, có thể chứng minh trở lại bất cứ lúc nào bằng thử-nghiệm.


Trong triết-học hoàn toàn khác, không một khái-niệm nào không đáng nghi-ngờ ! Không một khái-niệm nào có định-nghĩa chung cho mọi triết gia vì không một khái-niệm triết nào có thể chứng minh được bằng thử-nghiệm. Khái-niệm triết chỉ có định-nghĩa và có ý-nghĩa trong môi-trường của một hệ suy-luận triết-học. Nếu là tác-phẩm của một tác giả lớn, có khả-năng thiết lập cả một hệ suy-luận, thì khái-niệm có định-nghĩa và có ý-nghĩa trong môi-trường suy-luận của tác giả ấy. Nếu là tác-phẩm của một triết gia tầm thường, không tạo được một hệ suy-luận riêng, đôi khi khái-niệm được sử dụng không có cả định-nghĩa. Nó chỉ có một ý-nghĩa mơ hồ trong một môi-trường suy-luận lơ mơ hơn : phản ánhý-chung của một nền văn-hoá, ở một thời đại, thậm chí, ý-chung của… một làng triết gia trong một nước !


Nói thế có nghĩa : muốn hiểu một khái-niệm, một câu văn trong một tác-phẩm triết, ta phải có sẵn trong đầu môi-trường suy-luận trong đó nó có nghĩa ! Nhưng môi-trường đó không là gì khác hơn toàn bộ những khái-niệm, câu văn nối đuôi nhau để hình thành tác-phẩm ! Kết luận hiển nhiên : ta chỉ có khả-năng hiểu rõ một khái-niệm, một câu văn ở đầu tác-phẩm sau khi ta đã đọc hết tác-phẩm ! Nếu tác-phẩm thuộc loại có định-nghĩa những khái-niệm nó vận dụng ! Vì thế phải đọc ít nhất hai lần mới hiểu. Ai đã từng tìm hiểu triết-lý của Sartre trong Thực-thể và Hư-vô[2] ắt hiểu. Không thể chỉ đọc một lần mà hiểu được. Không phải vì triết-lý ấy bí hiểm tới mức người thường không hiểu nổi. Vì chỉ khi đã đọc hết quyển sách ta mới biết môi-trường tư-duy của Sartre, mới có khả-năng hiểu những khái-niệm Sartre dùng có nghĩa nào.


Môi-trường tư-duy của một tác-phẩm triết là toàn bộ khái-niệm được định-nghĩa trong tác-phẩm và những tác-phẩm trước của tác giả hay của những triết gia khác mà tác giả chịu ảnh hưởng, tán thành. Người ta chỉ có thể định-nghĩa một khái-niệm bằng một hay nhiều khái-niệm khác. Liên miên, vô tận. Khi tác giả ngưng, thấy không còn gì phải định-nghĩa nữa, con rắn đã cắn đuôi mình : trong tác-phẩm đã hình thành một hệ thống khái-niệm định-nghĩa lẫn nhau. Hệ thống ấy gọi là triết-lý của tác giả, là môi-trường suy-luận của tác giả. Nếu tác giả suy-luận chặt chẽ, độc giả chân thành, muốn nắm bắt tư-duy kia từ bên trong của nó, xuyên qua ngôn-ngữ của chính tác giả, sẽ rơi vào một cạm bẫy rất khó thoát. Theo tôi, cách duy nhất để giải-phóng mình khỏi môi-trường suy-luận đó là dùng nghiệm-sinh cá-nhân để đương đầu với những khái-niệm ấy, đánh giá chúng. Nói thế tưởng dễ. Chẳng dễ tí nào. Nghiệm-sinh của con người chỉ có ý-nghĩa qua ngôn-ngữ, qua khái-niệm. Ngôn-ngữ, khái-niệm của ta, ta đều… học ở người khác.


Quyển sách này có thể coi như một lời mời độc giả nhẹ nhàng cất bước vào thế-giới triết-học. Bước đầu hành trình ấy là tự xây dựng cho mình một thái-độ triết-học. Nội-dung cơ-bản của thái-độ triết-học là dám nghi-hoặc tận gốc toàn bộ kiến-thức của mình trong mọi lĩnh-vực. Đây là cống hiến lớn nhất của Descartes cho triết-học. Ông bắt đầu suy-luận của ông như sau. Cứ cho rằng ta nghi-hoặc tất cả mọi sự, ta không thể nghi-hoặc sự-kiện ta đang nghi-hoặc không có-thực. Ta nghi-hoặc, vậy ta tư-duy. Ta tư-duy, vậy ta có-thực. Cogito của Descartes, cơ-bản là dubito[3]. Tự giam mình trong thế bấp bênh ấy để đương đầu với nghiệm-sinh và kiến-thức của chính-mình, hòng tìm một tia sáng nhỏ nhoi cho thân-phận-làm-người trong thời đại của mình, là nội-dung cơ-bản nhất của thái-độ triết-học, là hoài bão của quyển sách này, ý-nghĩa tên nó : Tư-duy tự-do.


Trên cơ sở đó, ta đương đầu với một số câu hỏi « muôn đời » của loài người, tự xây dựng cho mình một phương-pháp suy-luận, một thế-giới-quan, một nhân-sinh-quan, rồi dùng chúng để tiếp cận mọi lĩnh-vực của cuộc sống, của tư-duy. Vì thế quyển sách gồm ba phần. Phần đầu đặt vấn đề với những niềm-tin của ta đối với cách suy-luận của ta trong các lĩnh-vực cơ-bản như khoa-học, sự-sống và văn-học. Phần hai tranh luận với cốt lõi triết-lý của một số triết gia gốc của Âu Tây, bàn về những vấn đề triết-học với ngôn ngữ của triết gia. Phần cuối ứng dụng những khái-niệm mới hay đã được định-nghĩa lại qua quá-trình trên để tiếp cận kiến-thức trong một số lĩnh-vực của kiếp người : tiềm-thức, khoa-học nhân-văn, kinh-tế, chính trị, nghệ-thuật và văn-chương.


Trong quyển sách này, có nhiều từ viết hơi khác truyền thống một tí : tư-duy thay vì tư duy. Đó là khái-niệm triết sẽ được định-nghĩa hay bàn trong tác-phẩm ở những chương có liên quan. Trong đoạn văn bàn tới một tác giả, phải hiểu từ viết kiểu ấy theo định-nghĩa của tác giả ấy. Ngoài ra có thể hiểu theo nghĩa thông thường. Thí dụ. Thế-giới theo nghĩa thông thường : toàn bộ những gì tồn-tại ngoài tư-duy của ta. Với Sartre : a/ nghĩa đó, b/ thế-giới hình thành xuyên qua ý-thức của con người. Sartre phân biệt : con-người-trong-thế-giới[4], với con-người-ở-thế-giới[5]. Trong khái-niệm đầu, thế-giới trong nghĩa thông thường trong đó có vật-thể người. Trong khái-niệm sau, thế-giới theo quan-điểm của Sartre, hình thành qua sự hiện-diện của con người. Thỉnh thoảng là khái-niệm của riêng tôi được định-nghĩa hay định-nghĩa lại trong quyển sách này. Thí dụ, thế-giới[6] : toàn bộ những quan-hệ ngoại-tại và nội-tại của con người. Mong độc giả sẽ hiểu rõ nghĩa của mỗi từ trong ngữ-cảnh.


Thỉnh thoảng, có khái-niệm viết trong ngoặc kép, thí dụ : « thực-thể ». Điều ấy thường có nghĩa : từ phổ quát trong tiếng Pháp nhưng, theo tôi, sai về mặt khái-niệm triết, tôi vẫn phải dùng vì không có từ khác để biểu-đạt hay vì tôi đang phân-tích khái-niệm phổ quát ấy. Thí du : un « être » vivant, một « thực-thể » sống.


Cuối cùng, bàn về triết-lý Âu Tây, khó mà không chua tiếng ngoại quốc trong bài : có những khái-niệm chưa thể chỉ dùng từ điển mà dịch chính xác được. Sách Việt Nam thường ghi chúng bằng tiếng ngoại quốc trong bài, dịch và đôi khi giải thích trong chú thích. Người không sành ngoại ngữ đọc rất mệt. Vậy tôi làm ngược lại, trình bày bằng tiếng Việt, ghi nguyên văn tiếng Pháp trong chú thích, khi cần thì giải thích thêm.


Tuy quyển sách này là một bản dịch, nó có giá-trị riêng. Khó khăn trong việc biểu-đạt khái-niệm triết Tây bằng tiếng Việt khiến tôi ghi nhận một số điều về sự tương-tác giữa ngôn-ngữ và tư-duy, lấy tiếng Pháp và tiếng Việt làm thí dụ. Thỉnh thoảng, trong quá trình dịch, tôi nẩy ra một ý liên quan trực tiếp tới những vấn đề được đề cập trong quyển sách này, vì lúc đó tôi suy luận bằng tiếng Việt, tiện tay ghi luôn vào văn bản tiếng Việt. Cuối chương 6, đoạn Phủ-định-cuối-cùng, nền tảng của tự-do và sự tiến-bộ không có trong nguyên tác tiếng Pháp. Tôi linh-cảm những điều tôi trình bày ở đó từ lâu nhưng bây giờ mới phát biểu được mạch lạc, mới nên lời.



________________________________________



[1] Chương này viết thêm nhân dịp đăng bản tiếng Việt.



[2] L’Être et le Néant. J-P Sartre.



[3] Sau này, Derrida nhại lại bằng cách « sáng-tạo » « khái-niệm » rất văn hoa : tư thế chất vấn (posture questionnante, Spectres de Marx, Galilée, 1993) Nghe rất kẻng, nhưng rỗng-tuếch, ngoài mỹ từ ra, chẳng có nội-dung mới nào, chẳng mở ra một khả-năng tư-duy mới nào. So với Descartes, thua xa. So với Sartre về cùng vấn đề trong L’Être et le Néant lại còn xác xơ hơn nữa.



[4] l'homme-au-milieu-du-monde, trong nghĩa : nó tồn-tại ở đó như mọi vật-thể khác của thế giơi.



[5] l'homme-dans-le-monde. Không dịch dans bằng trong như trong từ điển vì nội dung của khái niệm này là : nhờ sự hiện diện của nó mà một thế-giới hình thành (trong ý-thức của con người).



[6] Từ đây, tôi sẽ dùng từ thế-giới viết nghiêng mỗi lần tôi muốn nhấn mạnh nghĩa sau : thể thống-nhất mâu-thuẫn giữa thế-giới-vật-chất trong đó có thể-xác của ta, thế-giới-sống không thể tách rời thế-giới-vật-chất và thế-giới-tinh-thần không thể tách rời sự-sống của con người. Đây là khái-niệm riêng, khác khái-niệm thế-giới của các triết gia như Sartre hay Heidegger, v.v.




Entry for February 26, 2007

(Luận Ngữ)


XVII.2. : Tử viết “ Tính tương cận, tập tương viễn dã” - Khổng tử: “Bản tính con người gần giống nhau, do tập nhiễm mới khác xa nhau”.



XVII.3. : “Duy thượng trí dữ hạ ngu bất di” - “ Bậc thượng trí và kẻ hạ ngu là không thay đổi”.



XVI.9. : Khổng tử viết: “Sinh nhi tri chi giả, thượng dã; học nhi tri chi giả, thứ dã; khốn nhi học chi, hựu kỳ thứ dã. Khốn nhi bất học, đản tư vi hạ hĩ” - Khổng tử nói: “Sinh ra mà đã biết, là bậc tiên; học rồi mới biết, là bậc thứ; gặp cảnh khốn nạn rồi mới chịu học, lại còn thấp hơn nữa. Thấp nhất là gặp cảnh khốn nạn rồi mà vẫn không chịu học”.



Albert Camus - Tiểu luận: Giao cảm - Bề trái bề mặt. Tựa:



“...Brice Parain thường cho rằng tập sách nhỏ này đựng trọn hết mọi điều tốt đẹp nhất tôi đã viết ra. Parain lầm. Biết rõ lòng chính trực của ông, tôi không bảo vậy do sự áy náy của người nghệ sỹ đứng trước những kẻ đã cả gan chuộng dĩ vãng hơn là hiện tại của mình. Không, ông lầm là bởi ở tuổi hai mươi hai, trừ phi là thiên tài xuất chúng, người ta chỉ biết bập bẹ viết văn.

Nhưng tôi hiểu rõ Parain muốn nói gì. Ông vừa là kẻ thù uyên bác của nghệ thuật, vừa là nhà triết học nghiên cứu lòng trắc ẩn. Ông muốn nói rằng, và như vậy là chí lý, trong mấy trang sách vụng về này, có hun đúc nhiều tình thương hơn là trong những trang sách kế tiếp về sau của tôi.”.





- Những ai đã từng làm sáng tác một lần đều sẽ thấy: viết là một nhu cầu tự thân. Quá trình viết lách nằm lưng chừng giữa hữu ý và vô ý. (Nói liên quan đến nó có tiểu luận bàn về thể “Hứng” trong Kinh Thi của F.J rất hay - tập “Đường vòng và lối vào”). Tại sao lại khó định vị nó (quá trình viết/sáng tác) như vậy? Có lẽ vì - sáng tác không đặt hoàn toàn căn cơ của mình trong “ý”- dù là niệm “ý” hay “vô ý”. Nói nghệ thuật (nói chung) có mục đích cao nhất là truyền tải cảm xúc là một cách nói. Có thể diễn đạt thế này: khởi nguyên là một hỗn độn thúc bách trong nội tâm mà “ý” không quán xuyến được nhưng cũng không cam lòng. Và khi đó, viết là một hành động phản tỉnh, tự thức – phô diễn (nó) ra để có thể tự quán xét (nó). Và mối giao cảm giữa các nhân vị không đơn giản là một hiện tượng bình phàm. Nó ẩn chứa câu trả lời cho sự hiện hữu, cho vấn đề hiện hữu của chúng ta. (Nó cũng hàm ngụ lời giải về sự bế tắc của lý tính - về sự siêu vượt chủ nghĩa phi lý).



Tất nhiên, khái quát như vậy là đã gạt ra ngoài những kẻ chầu rìa nghệ thuật, những kẻ hương nguyện, và lũ bồi bút.



- Đến đây, một lẽ tự nhiên, ta sẽ có câu hỏi về “Đọc” trong tương quan với chiều hướng “Viết” vừa rồi kia. Hình như Đọc không phải là sao chép hay vơ vét cộng thêm vào. Kiến thức không phải là những củ khoai tây và trí não, tâm hồn không phải là cái bao tải khoai. Đọc dường như là liên tưởng, tượng trưng và cảm nghiệm cộng hưởng. (Cộng hưởng chỉ xảy ra trong một-môi-trường-duy-nhất và giữa những gì vận động sinh động – không thể có khi nó bị quan niệm (1) như những gì chia tách, bất khả dung thông). Đấy là con đường trực tiếp từ nội tâm đến nội tâm, qua ngôn từ mà cũng vượt quá ngôn từ. Hình thức diễn đạt trở lên rời rạc, sai lạc khi mối tương quan kia bị bỏ qua. Ngộ nhận khởi lên tự đó một cách thành thực. Đọc – là đọc con người viết thông qua đọc chính mình. Cũng vậy, Viết là viết con người mình – chính mình như một kẻ khác.



(1) Vì sự-thật-tuyệt-đối là không phải thế.

(Luận ngữ) - Khổng tử nói “Ta từng không ăn không ngủ để suy nghĩ, nhưng vô ích. Không bằng học.”



Thứ Sáu, 23 tháng 2, 2007

Tàu đi Chapa.

Sapa.


............Có một lần, tôi thất vọng ghê lắm. Không cái gì cụ thể đến mức là chính yếu, nhưng một giọt nước làm tràn ly...công việc, quan hệ xung quanh, tự soi bản thân...

Chiều, gần tối rồi mà tôi thấy bần thần không yên. Không thể ngồi trong nhà được. Hai thằng em ở cùng lại chưa về. Không có gì níu kéo cả. Tôi nhớ chuyến tàu..thế là quyết định đi Sapa. Lấy một cái áo khoác ấm, tắt ĐT vứt vào tủ, nhắn lại mấy câu là đi vài ngày..rồi xuống đường đi bộ. Lúc ấy là 6g tối. Tôi lững thững đi bộ từ Nam Đồng đến tận ga B. Mua vé, rồi ngồi uống nước chè, đốt thuốc, chờ. Tàu đến. Thế là chắc chắn, không thay đổi nữa, kệ em yêu, kệ tất cả. Bắt đầu tôi thấy ý nghĩ của mình chuyển sang những điều khác.

Luôn luôn tôi nhớ những chuyến tàu đêm đi Yên Bái, Lào Cai..nhớ cái ấn tượng đến ám ảnh của lần đầu tiên. Con tàu cổ lỗ, còi hơi. Hành khách là những người bình dân-đủ mọi hạng người, nhếch nhác..Cái không khí chộn rộn, ngai ngái của sân ga về đêm, dưới ánh đèn điện vàng vọt. Cái giọng nhắc tàu rất đặc biệt, đặc biệt ngang với chương trình ngâm thơ trong mục Văn nghệ của đài tiếng nói VN lúc đêm khuya gần Tết âm lịch. Xe ôm, xich lô, khuân vác, chè chén..người đưa người tiễn, cái dáng vẻ láo nháo ngơ ngáo tìm nhau. .Sự vội vàng của người về, vẻ bồn chồn của người đi...

Con tàu sẽ rục rịch rồi đi qua phía lưng của những khu phố cũ. Tôi ngồi trong toa ghế cứng (đấy mới là nơi của đa số mọi người), nhìn qua khung cửa. Không bao giờ người ta chú ý đến phía sau ngôi nhà cả. Con tàu như đi qua một thế giới chưa hề thay đổi-một thế giới, cũ, nhếch nhác và không hề mảy may làm duyên làm dáng. Thảng hoặc có xuất hiện vài người thì cũng là những phút giây không hề duyên dáng, cũng chẳng buồn ngó con tàu..Tất cả là một thế giới không phải của hiện tại. Khi tàu đi qua đoạn Đường Thành, tự nhiên thấy khác lạ vô cùng. Phố cũ Hà Nội nhìn từ trên cao xuống thấp thoáng sau hàng bàng đã thưa lá ngày cuối đông thật yên tĩnh khác thường. Từ trên đây thấy phố chả khác ngày xưa chút gì.

Ngang qua sông Hồng, gió bắt đầu lộng thổi. Cây cầu Long Biên xa xa trong ánh đèn vàng mờ mờ một quầng..cầu chỉ riêng cho người đi bộ và đi xe đạp-chủ yếu là xe đạp thồ, nhiều nhất vào sáng tinh mơ, khi mọi người chở rau sang phố..Thành phố lãng quên nhiều thứ quá, nên mới còn đầu sông cuối bãi này để mà đôi khi ta ra ngó cho lòng dịu lại...Tôi luôn thấy chuyến tàu là một hình ảnh thật giống với hình ảnh cuộc đời. Đủ mọi hạng người trên cùng một hướng đến đại thể. Ngồi lên đây rồi là không ai nghĩ đến một hướng đi khác nữa-không chọn lựa. Ở trong xe lửa là yên tâm nhất. Mọi sự vẫn trôi đi mà khối sắt thép này là đảm bảo tuyệt đối cho sự an toàn trước mưa gió ngoài kia. Có thể gặp vô số cảnh đời nơi đây: một cụ già về quê, một gia đình chộn rộn có con nít, những người đi buôn, những người đi làm, những đôi lứa đi du lịch, những người không thể biết...Trên tàu cũng có sự phân biệt, có trật tự riêng..trật tự của những người cả cuộc đời ở trên dòng lắc lư này...

...Khi đêm đã hơi muộn rồi, trời se lạnh thì mọi người đa phần đều ngủ hay gà gật. Tàu đang đi qua những cung đường vắng. Một vài ngọn đèn vẫn bật đủ soi mờ tỏ những dáng hình con người. Mọi người cố xoay sở cho mình tư thế thoải mái nhất có thể: những cái áo đắp tạm, người thì nằm ngang, chân gác qua thành đối diện, có người mắc võng và không ít người nằm luôn xuống sàn tàu có hoặc không có tấm gì kê lưng. Tạm bợ, tất cả đều tạm bợ vì chuyến đi chỉ là tình cờ, mọi người đều chờ đợi sự sạch sẽ tại nơi đến của mình. Bất giác tôi liên tưởng đến một cái nhìn trong suốt-tôi luôn ao ước có ai vẽ ra bức tranh ấy:trong con tàu, loại trừ đi những vách ngăn, nơi này là những người nằm ngồi la liệt, khoang bên là sáu con người một gian..mỗi người một tư thế, một dáng vẻ trong một thế giới ba chiều. Ai cũng bàng quan nghĩ rằng mình đơn lẻ, riêng tư...Ai đó nói mê, một vài người trở mình, thỉnh thoảng có người quờ quạng đi về phía toa lét, băng qua những cái chân ngáng, len lách giữa những thân người. Mỗi lần ngồi trong một toa tàu tôi thường luôn tìm một hình dáng nổi bật nhất. Một cô nào đó sẽ được chọn làm hoa hậu và hễ cô còn ở đó và không bị thay thế thì cảm xúc của tôi vẫn còn trung thành với cô đấy...Bất chợt một vài người bừng tỉnh, lục sục đồ đạc. Giọng thông báo ngái ngủ, con tàu sắp dừng lại một ga lẻ nào đó. Khuya rồi. Sương lạnh xuống mờ mịt. Con tàu dừng lại giữa một quãng rừng vắng. Trong đêm tối, cái ga xép chả thấy đâu, quầng sáng vàng vọt chỉ đủ soi thấp thoáng cây cột điện, hình như có nếp nhà sàn..Vài ba người xuống tàu, rồi vội vã tan mất vào trong đêm tối. Không biết giữa rừng thế này họ đi về đâu? Cũng không ai để ý họ cả, mọi người chìm trong giấc mộng mị, thấp thỏm..

....Giờ thì chỉ toàn là đường rừng. Ngó mông lung trong đêm tối, thỉnh thoảng vang vọng tiếng còi tàu tôi tưởng rằng như đâu đây sau bóng tối kia là cả rừng già đang hồi hộp. (Những cánh rừng thơ ấu chắc chỉ tồn tại trong những phút giây này thôi)...

...Tàu sẽ đến ga vào sáng tinh sương. Lần nào tôi xuống tàu cũng gặp những cơn mưa lơi rơi. Nửa mưa nửa sương nặng hạt. Buổi sáng nhoè nhoẹt và đường thì ướt rượt. Mọi người đều vội vã nhanh chóng đi tìm một chuyến xe vì chỉ một lúc thì ga lại vắng hoe. Xe đi Chapa bây giờ rất tiện và khá lịch sự. Loại 16 chỗ, đủ người là chạy ngay nên không khó khăn gì để lại được ngồi trong xe ấm áp mà ngó con đường. Núi chẳng mấy khi đẹp như tranh ảnh cả, mà thường bình dị, hơi nao lòng. Thỉnh thoảng vài chiếc xe Mink hay Simson của người Mèo chạy vượt qua. Đường vòng vèo khó đi, thỉnh thoảng lại có tai nạn, có năm bị sạt đất, lở đường..Vài người đeo gùi lầm lụi đi, đôi khi gặp bọn trẻ con-trẻ con ở đâu cũng vẫn vậy, thật dễ làm lòng dịu xuống và bâng khuâng, trong trẻo..Tôi vẫn nhớ nhất lần đầu lên Chapa vì hồi đó xe đi còn rất đa dạng chưa đồng bộ hoá như bây giờ. Lần ấy, xuống tàu ở Cam Đường rồi đi xe lên thị xã Lào Cai rồi mới đổi xe đi Chapa. Lần đầu hỏi thăm, mọi người bảo dễ lắm, taxi đi Sapa thì lúc nào cũng có. Choáng, mình sinh viên, lên đây mà đi taxi thì chỉ có nước mua vé tàu về xuôi luôn! Hoá ra không phải, trên này đồng bào gọi xe khách, ô tô, xe đò..là taxi..(không biết bây giờ còn thế không?).

...Rồi chúng tôi cũng lên được chuyến taxi của mình. Một chiếc U oắt dã chiến, phía sau để hở. Trên xe có bốn anh em chúng tôi hồi ấy sinh viên, ba lô, túi, bảng vẽ, túi giấy lỉnh kỉnh..hai vợ chồng già đi chơi về, bình dị..giữa đường đón thêm hai vợ chồng người Hmông xách đôi gà trống nói giọng Kinh hơi ngọng..hai cậu bộ đội trẻ đi lấy củi dọc đường cũng ghé lên và được phân công đánh đu đằng sau cùng của xe! Sàn xe có một lỗ thủng to tướng, tí nữa thì tôi bị rơi cả giầy xuống đường. Đoạn đường mỗi lúc một khó đi hơn. Lần đầu nếm mùi đường đèo khúc khuỷu, chúng tôi phải mất đến 15 phút mới quen được với tâm trạng là mình đã ngồi trên xe rồi..thôi kệ sống chết có số. Lên đến độ cao nhất định thì hơi có cảm giác ù tai, se lạnh. Anh bạn đi cùng vì quá hào hứng với phong cảnh mới buột miệng khen "một bác tài miền núi bằng ba ông đồng bằng" thế là ôi thôi...chiếc xe tha hồ lượn lách, vượt, đánh võng cua gấp..Chỉ dịu lại khi đã xuýt xô phải một chiếc xe Mink từ ngõ chồm ra. Đi mấy nơi tôi thấy cứ nơi nào miền núi nhiều dốc đèo là người dân có thói quen phóng nhanh ào ào, mình không quen thấy rất nguy hiểm. Hay người ta sống giữa núi rừng thì dũng cảm hơn nhỉ? Thỉnh thoảng vượt một chiếc xe đạp-pó tay với pác lày luôn. Thỉnh thoảng có chiếc xe đạp đổ đèo thì có một cành cây rất to làm phanh kéo lê thê đằng sau..rất hiên ngang, phong trần phết. Dĩ nhiên là cả nhóm mấy bà mấy cô Hmong đi chợ, mấy con trâu con ngựa gầy, bẩn, lầm lũi...Từ đấy về sau chả mấy con đường nào còn khiến tôi hoảng sợ như thế nữa..nghe nói đường đá Hà Giang còn nguy hiểm hơn nhiều phải không bác Chít?

...Xe đổ khách ở bên hông nhà thờ chợ Sapa. Hơi hoang mang, chúng tôi chưa ngắm ngắm nghía nhiều mà còn lo tìm một chỗ trọ khả dĩ với túi tiền. Sự thực lúc đi bọn tôi rất liều, không dự tính, không đóng góp chung mà cứ người này suy diễn người kia..Đại ý chỉ dự tính đủ hai lượt vé đi về là đủ. Giờ mới lo đây. Cả bọn bàn phải tìm một quán nước nào dễ bắt chuyện để hỏi dò mọi sự. Tôi ngó quanh quất rồi chỉ "Kia, bà chị áo vàng!". Cả bọn đi một nửa vòng đến ngồi ở một quán nước dưới một gốc thông căng che bằng một tấm bạt, nằm phía đối diện nhà thờ qua sân chợ tình. Bấy giờ là mùa hè, nhưng chưa đông khách du lịch, chúng tôi đi vào giữa tuần nên không đông khách. Thị trấn Sapa đìu hiu thưa thớt...

...Cho đến tận giờ tôi vẫn còn giữ niềm tự hào rất chi chủ quan về khả năng dự đoán tính cách người khác qua dù chỉ một thoáng nhìn (Tôi vẫn huênh hoang bá láp vậy thôi với bạn bè mặc cho những cú vấp đau lòng. Kệ! Mình phải tin vào con người chứ nhỉ?). Chị Ánh-tên cô chủ quán-còn trẻ, dưới ba mươi, không ồn ào nhưng rất nhiệt tình và cởi mở. Sau vài tuần trà, điếu thuốc thì chị đã biết là chúng tôi không vội vã đi đâu là vì chúng tôi đang tìm một chỗ trọ rẻ tiền. Chị giới thiệu mấy chỗ...Chen giữa câu chuyện thong thả, chúng tôi đã kịp biết bà cụ mang nước nóng ra là mẹ chị Ánh, bà không hay chuyện nhưng có cảm tình với chúng tôi. Bà kể chuyến đi tàu dọc Nam Bắc thăm con và họ hàng đầu năm. Cả nhà là dân gốc Yên Bái, chị Ánh theo chồng lên đây làm việc trong trường dân tộc nội trú, rồi bà cụ chuyển nhà lên đây, còn cô gái út đang làm cô giáo bản, đang nghỉ hè...Biết chúng tôi chưa có chỗ trọ, bà bảo lên nhà tôi ngủ, có đủ chăn chiếu, cần gì đi đâu..Êm rồi, chiều Sapa đẹp quá đi...nhưng dù sao vẫn hơi ngài ngại...Chợt chị Ánh nghĩ ra-"để chị hỏi bọn ký túc xá trường" Tuyệt vời, cuối cùng chúng tôi sẽ nghỉ trong ký túc xá của trường dân tộc nội trú. Có một phích nước nóng và 5000đ một người một đêm. (Hồi đó giá của nhà nghỉ là 30-50nghìn). Cất đồ xong thì chúng tôi bắt đầu đi dạo loăng quăng, ngó nghiêng. Lúc từ trường học đi ra gặp cảnh một đám đông xúm xít xem một đôi Hmông đang co kéo. Một anh chàng dùng chiếc khăn thít chặt tay cô gái kéo đi. Cô gái đỏ mặt tía tai dằng lại quyết liệt. Họ nói tiếng dân tộc, chúng tôi không hiểu gì. Chỉ thấy anh trai có thoáng cười, còn cô gái thì có vẻ bực. định can thiệp lại nghe có người bảo đấy là người ta bắt dâu nên thôi..Không biết về sau thế nào, cũng không thấy ai can ngăn gì cả...Tôi mua một chiếc áo khoác thổ cẩm không có tay rồi diện suốt đến tận khi về Hà nội. Sau đấy còn đeo mang cả năm trời cho tới khi giã từ trào lưu quần bò xé gấu, bị cói, túi vải, tóc dài...Tôi lại ra quán chị Ánh ngồi. Luôn luôn tôi có thói quen dè dặt sử dụng thời gian của mình với cái mình đang tìm kiếm. Vào thư viện, tôi thường lang thang cả buổi từ góc xa nhất cho tới kệ sách cuối cùng mới là nơi có cuốn sách hay thể loại tôi ưa thích. Tôi thường lo mình đã bỏ qua điều gì vương vất...

...Quỳnh là tên em gái chị Ánh đã ra ngồi gần chỗ chị mình và bày thúng ngô bản bắt đầu chuẩn bị nướng. Hơn bốn giờ chiều và chẳng cần giải thích nhiều khi chúng tôi không còn hăng hái đi tham quan cái gì cả hơn là ngồi hơ tay trên bếp lửa ăn ngô nướng ngọt mềm và hỏi chuyện cô chủ...Câu chuyện cũng bâng quơ và nhẹ nhàng vì hơi tội là trong lũ tôi chả ai có được cái tính tán tỉnh lăng nhăng cả. Em dạy bọn học sinh ở cách ba quả đồi. Học sinh một lớp học mấy chương trình cùng lúc vì gộp cả các lớp vào mới đủ người. Học trò nói tiếng Kinh một lúc, cô giáo nói tiếng Mèo một lúc...Hết hè rồi thì phải đi tìm học sinh giục lên lớp. Quỳnh mới đi dạy một năm, không biết cô sẽ gắn bó với cái lớp học ấy được bao lâu?...

...Sương đã xuống mù mịt, người cũng đông hơn và nhiều hàng quán hơn. Trời tối đen kịt, đi vào chỗ nào không có bóng đèn thì chả nhìn thấy gì. Tôi cũng không còn nhớ nhiều mình đã đi lang thang thế nào..chỉ nhớ lúc phải rời bếp than hồng nướng ngô vì đã sắp buồn nôn vì ăn quá nhiều. Ôi ôi là cái sự ăn ngô vì cô chủ!..Lúc về ký túc xá thì đã khuya. Có tiếng cười rúc rích ở gần cổng, trời tối quá, ai đó định tiến về phía tôi rồi lại rụt lùi, tiếng mấy cô gái Mèo cười rộ..Hơ hơ, hình như họ nhầm mình với anh giai bản nào đó-tôi mặc áo thổ cẩm. May mà không bị lôi vào bụi cây nào rồi thì lại bị chài, bị bỏ bùa thì còn mong gì ngày về!...Tôi kịp nhìn trên thành giường tên chủ nhân của nó:hôm nay tôi là Vàng A Pao....

...Những lần sau này tôi toàn xỏ tay vào túi đi một mình, không hành lý, không gì cả, tiền chỉ vừa đủ dùng. Thấy mình nhẹ nhàng hẳn. Khi bước xuống tàu, hay xuống ô tô, dù là ga tàu hay bãi chợ Sapa, tôi luôn có một thoáng chạnh lòng. Những người cũ không gặp nữa, cũng không tìm. Nhưng trong tôi, luôn luôn thấy ấm lòng khi biết đâu đó sẽ có người nhận ra mình chăng...Cũng như luôn vang vọng cả buổi chiều cuối năm một câu reo hỏi "ô kìa ông khách kia, hôm nay mới ra à?" ở giữa dòng suối Yến. Tôi không thích đi Hương Sơn mùa lễ hội cũng vì vậy, phải là một ngày thường, trong lòng núi, trên dòng sông, đâu đó có người hỏi thăm "ông khách thăm ai?", những tấm lòng lại hồn hậu, dễ dãi, không còn hằn gắt như những ngày đua chen mù mịt...

...Sapa. Sáng hôm sau, chúng tôi tỉnh dậy từ sớm tinh mơ và trả phòng luôn. Hôm ấy là thứ bảy, mới là ngày vui nhen nhóm, nhưng chúng tôi phải về vì hết tiền đến nơi rồi. Với lại, tôi biết, tôi còn quay lại nơi đây. Từ 9g trở đi đã thêm nhiều người khách du lịch cuối tuần lên đến nơi làm không khí vui hẳn. Một gia đình, mấy đôi trai gái, mấy cô học trò..họ luôn nổi bật lên vì trông cách ăn mặc là đã biết là du khách, tha hồ cho các bà Mèo mang vòng túi đến chào đón. Không ai hỏi chúng tôi mấy vì bộ dạng. Chết cười, có lúc tôi bảo để em đi tách ra, thế nào cũng có người hỏi. Vì tôi hôm ấy mặc quần soóc, đi đôi dày da lộn rất xịn (nhưng đã há mõm vì là đồ se con hen), lấy cái mũ rộng vành đội vào, khoác balô bộ đội, mặc chiếc áo khoác ngoài thổ cẩm thì cũng giống Tây phết! (vì đã bỏ lại cái quần bò, mấy cái túi, mấy thứ lỉnh kỉnh cho anh em rồi. Y như rằng một thoáng, mấy bà mấy em Hmông xúm vào, mình cũng phùng má no, no..như thật. Sau họ biết, cười rũ rượi rồi thôi.

...Sau ấm trà của chị Ánh, chúng tôi đi bộ ra suối Cát Cát, khoảng 3km. Đường gập gềnh, nhưng hôm nay đông người đi. Đến nơi thấy cũng thường, định lôi bảng vẽ ra rồi lại thôi. Đi chơi cho nó nhớ, vẽ vời mà làm gì! Lang thang lên đầu suối, hỏi chuyện mấy người dân tộc biết là năm nào cũng có người chết đuối ở đây vì chủ quan. Chết thật, lúc nãy, tôi với thằng bạn lần mò tắm ở đoạn trên mãi, chả biết sợ là gì. Suối trong mà sâu lắm, lúc đánh rơi cái thắt lưng định mò vớt tôi mới thấy hoảng. Nó hiện rõ thế kia mà nhúng cái que đến 3m chả thấy đâu. Tự nhiên thấy đoạn về thật khó khăn.(chúng tôi men theo dòng suối đi mãi lên trên đầu nguồn, không có đường, cứ bám vào rễ cây mà đi). Hai năm trước, có người bạn của mấy cậu em, không quen nhưng mà biết, vừa ra trường xong đi sinh nhật một mình trên ấy, rồi sảy chân ngã cũng chết ở đây. Mấy hôm sau mới vớt được. Bạn bè lên đón về, còn ướt rười rượi…

...Lúc đi rẽ ngang lối vào bản xa, gặp nhà sàn, có người mẹ địu con đang dệt vải. Người ở đây con gái tay ai cũng lấm chàm đến ngang khuỷu. Phụ nữ Mông thấp người, mặt to, dáng đi gù gù như cái điệu đeo gùi quanh năm, không đẹp như đàn ông tộc mình. Chúng tôi chào..."Chúng mày vào chơi, không sợ chó cắn đâu.." Nhưng lần ấy chúng tôi không vào...Nhà họ nuôi gia súc dưới gầm nên hôi và nhiều ruồi muỗi, không như nhà người Thái. Ồ người Thái, tôi lại nhớ cái lần liêng liêng vỗ tay hát hò theo điệu đàn dây của ông thợ săn trong căn nhà thấp tối cũ kỹ cuối bản Mai Châu buổi đêm, lúc ngoảnh ra thấy ngoài cửa sổ có chục cặp mắt của lũ bạn cùng lớp ngó vào-họ cũng e ngại người dân tộc như chúng tôi hồi ấy.

...Buổi chiều, mỗi người lang thang một nẻo. Tôi men con đường nhỏ đi về phía mấy căn nhà hoang phế. Tình cờ gặp ông anh cũng đang lang thang. Hai anh em đi một đoạn thì gặp người quen. Bà cụ mẹ chị Ánh dáng người nhỏ nhắn nhanh nhẹn mang cái ấm không về (bà thường mang nước nóng ra cho con). Qua hàng rào cây ngang người, từ xa bà nhận ra chúng tôi, gọi vào nhà chơi. Lúc về, chúng tôi băng ngang vườn, hái mấy trái đào trái mùa mà thấy ngon tuyệt...

...Sapa. Lần này tôi không vội vàng gì, tôi quá quen thuộc rồi mà. Xe dừng, tôi lững thững lên phía nhà nghỉ công đoàn Lâm nghiệp(?) lấy một phòng. Lại là mấy người khác rồi, những người cũ không làm nữa. Bên ngoài trời lạnh, sương mù mịt. Tôi chẳng đi đâu, ngủ cả ngày, đến bữa đi ăn. Hôm sau, trả phòng sớm. Lại lên tàu về Hà nội. Lòng tôi vẫn nặng chĩu suốt nửa chuyến đường về....

Sapa. Lần đầu tiên đi tàu ban ngày trên tuyến đường này. Hơi nao nao, vì nhớ những chuyến tàu đêm. Thị trấn không làm yên lòng, cảnh vật lại nhắc nhở chuyện đời thực mộng. Tôi phiền muộn, lơ đãng ngồi vào ghế của mình. Có hai người giống như hai cha con bác nông dân miền núi ngồi cùng. Một đống quang gánh vứt dưới gầm ghế. Cậu con trai mang theo một cái lồng chim hoạ mi. Họ ăn mặc rất nhếch nhác:áo sơ mi không thể coi là màu gì, quần kaki trung quốc, ống thấp, ống cao..dép lê. Người cha khoảng sắp 60, người con trai khoảng giữa hai mươi. Câu chuyện rời rạc..Một lúc nào đó, một người lấy quyển sổ học sinh lem nhem ra tính toán, chữ nguệch ngoạc, không nhìn ra được là ghi chép gì. Một người nhẩm tính cả mỳ tôm...Hình như không phải hai cha con. Họ đi buôn thì phải. Có vẻ như phải mấy tháng rồi mới từ rừng về. Tôi vẫn không để ý nhiều câu chuyện của họ, liên quan gì đâu...Chỉ hơi buồn cười cho cái vẻ luộm thuộm và tẩn mẩn của cậu con trai khi giữ khư khư cái lồng chim hoạ mi mua được từ trong rừng ra ấy. Tôi vốn không ưa việc nhốt thiên nhiên lại trong một cái lồng nên tự nhiên sinh sự để ý. Hơi buồn cười khi anh chàng nhắc tôi cẩn thận không dẫm phải chim của em!

...Đã qua Yên Bái, tự nhiên câu chuyện của hai người nhắc đến những tuyến quốc lộ. Tôi góp một vài con đường, thế là bắt chuyện. Vài lời nữa thì ô hô, a ha, hơ hơ...không tả được là tâm trạng tôi như thế nào khi nhận ra đây là hai công nhân của đội trắc đạc nào đó vừa đi đạc tuyến điện trung thế trong rừng về. Cái đống quang gánh mà tôi hờ hững dẫm lên lúc nãy là mấy cái mia, máy thuỷ bình...Cuốn vở học sinh thì kiêm luôn sơ đồ hoạ mốc...(Mãi sau này tôi luôn nhớ lại ấn tượng này như một lời cảnh tỉnh nhẹ nhàng với bản thân về cái sự nhỏ hẹp của lòng mình, khi mải nhìn mình người ta chẳng nhận ra dù một sự vật giản đơn, mà sa đà ngay vào những phán xét ước lệ..). Câu chuyện sôi động hẳn lên vì nghề nghiệp khiến gần như tôi thường xuyên có liên quan với những người như họ. Đến một nơi hoang sơ, ngắm nghía tìm hiểu qua qua, ước lượng quy mô rồi khoát tay một vòng...tôi sẽ về và mơ màng những kỷ niệm, còn họ sẽ bắt đầu hạ đồ, dựng lều, tìm nguồn nước..chuẩn bị một vài tuần lặn lội với muỗi, vắt và hoang vu...

...Khi xuống ga Hà nội, lòng tôi an bình lạ. Tôi nhìn mọi sự đã qua thực không đáng một mảy may...Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn nhớ những câu chuyện rơi rơi của ông bác công nhân già ấy về một cuộc đời lang thang khắp đất nước. Về những chuyến đi vừa mới từ Nam về đã lên Bắc mấy tháng với cậu trai trẻ kia. Hôm ấy giáp Tết, ông tính về nhà kịp đám cưới cô con gái, ra Tết lại vào Bình Dương...Hình như người thanh niên có hỏi ông về kế hoạch nghỉ hưu...Giọng ông thực thà đơn sơ lắm "Đi cả đời rồi thấy quen. Ở nhà vài ngày lại không chịu được.." Từ đây, không bao giờ tôi nản lòng trước cuộc sống. Mỗi khi thấy mình bải hoải, bế tắc..tôi lại biết, tôi đang quẩn quanh quá..cuộc đời dài rộng lắm...



Thứ Năm, 22 tháng 2, 2007

Rượu

Coppy từ Langven.com

Rượu Cognac/Brandy

Kỹ sư Sagant Phan


Hằng năm, đến mùa Noel/Christmas là tất cả đồng loạt những gian hàng lũ lượt trưng bày những món hàng dành đễ biếu xén và trưng bày trong tủ kính, khi khách đến viếng thì thường thường gia chủ trịnh trọng khui nó ra mà đãi khách. Đó là rượu. Cho dù đồng tiền thiếu hoài... kinh niên kiếm tiền muốn mờ con mắt gia chủ cũng phải ráng mua cho được vài chai rượu, trước là biếu xếp, hai là mời khách một chút rượu uống cho ấm bao tử chẳng lẽ mời khách uống nước đá chanh chua lè?


Rượu không gì quý hơn là rượu ngoại, còn rượu nội nghĩa là rượu đế cho những cha nhà quê vừa uống vừa khà với con khô mực dai nhách bất chấp hàm răng của mình đếm không còn được bao nhiêu để cười cho ăn ảnh, cười để lấy le với bà con cô bác ta đây còn bảnh lắm.


Đàn bà con gái thì đủ những món áo quần chưng diện, dày dép, bóp đầm đủ kiểu, áo dài sắm hoài cho đến khi treo vào tủ áo chừng vài cái nữa là ... sập tủ mà vẫn thấy chưa đủ, ra đường vẫn còn thấy ... trống trơn.


Còn đàn ông thì sao? Vẫn một bộ đồ vét mặc đi mặc lại hoài nhưng không được thiếu rượu à nghen. Bất chấp bà xã giảng nghĩa: "Uống chi ba thứ đó vừa tốn tiền vừa nói chuyện... nhừa nhựa nghe thấy mà phát ghét, sao không tập uống sữa... bò cho vợ con nhờ vì nó bổ khỏe?"


Mỗi năm đồng tiền lên giá (nói theo nghĩa kinh tế ngân hàng là tiền mất giá), nhìn giá dán tiền của những chai rượu ngoại về nhà thấy mà ớn lạnh, nhưng không có nó thì ớn lạnh thiệt tình, nhà gì nhìn thấy mà trống trơn, chai rượu nào giá cũng cao quá, chai nào cũng mắc tiền, cũng thấy nhãn dán toàn là những chữ viết hoa như: V.S.O.P hay V.S.P hay O.P, nào là chữ Martell, Napoleon, Remy-Martin, Hennessy, Bisquit-Dubouche, Camus, Courvoisier... thiệt là đúng mà những cha nào mà khoái uống rượu ngoại trước sau gì cũng sạch tiền áo quần trống trơn, có cha đang ngồi dựa cột đèn quần xà lõon đang ngó mặt trăng mà cười cười. Còn bà xã thì ghét thiệt tình. Uống chi ba thứ quỷ đó hôi rình về nhà hành tội người ta nữa chứ? Nhưng cũng chính mấy bà cũng khoái tủ kiếng của mình được trưng những chai rượu ngoại dắt tiền để bà con lối xóm nể chơi, chẳng lẽ trưng mấy cái bóp đầm hay dép guốc kiểu trong tủ kính, bộ mở tiệm bán bóp đầm hay sao? Đàn ông nghĩ tội nghiệp: mua vài chai rượu về chưng tủ kính cho gia đình thấy oai, chớ mấy bã mua mấy cái bóp đầm cất chi mà kín mít vậy nè? Như giấu đồ quốc cấm vậy?


Chai rượu càng để lâu càng đắt tiền chứ mấy cái bóp đầm của mấy ba để lâu có môn vụt vô viện bão tàng cho nó gọn ghẽ.


Rượu có nhiều sách cho rằng nó xuất hiện trước thời Ai Cập xây kim Tự Tháp, có người cho rằng rượu được làm ra trước thời kỳ xây Tháp Babylon, nhưng mấy bà đâu có tin mấy thằng cha uống rượu rồi viết sách ca tụng về rượu? Nhưng nói thiệt trên vách tường Kim Tự Tháp Ai Cập có vẽ những bức hình người ta tế lễ trời đất bằng rượu, và vị vua Pharoan uống rượu mặt mũi đỏ ké, còn mặt Trời Thần Rhah nhậu rượu mặt mũi cũng đõ ké luôn. Có nghĩa là: "Ta say, Trời cũng say luôn... Trời say Trời cũng lăn quay với mình..." Câu thơ nghe đã thiệt.


Bên Pháp người ta vừa khám phá một cái động đá, vẽ những loài thú như nai và gấu, nhưng có hình quan trọng là mấy tay bợm uống cái chi mà đang lăn bò càng, nên nhớ lúc đó văn minh loài người chưa làm được cái ly, nhưng họ làm ra cái gì uống để mà lăn quay đây? Chẳng lẽ họa sĩ vẽ những thằng cha đang... trúng gió? Nhưng trúng gió vì ruợu hay trúng gió vì gió cũng đồng nghĩa như nhau.


Nhưng theo sự suy nghĩ từ Thiền định mà ra hay từ lúc suy nghĩ do cơn ngật ngừ vì rượu mà biết được, thì rượu có lẽ được làm từ lúc Tạo Thiên Lập Địa do sư tổ là Adam làm ra. Adam làm ra trong lúc tình cờ. Số là sau khi nghe lời vợ là cô nàng Eva, chọc giận "landlord" mà ăn trái táo. Landlord đi vacation về thấy mất trái táo, nổi giận mà đuổi vợ chồng son ra khỏi thiên đàng. Adam và Eva xuống xã hội trần gian, tứ cố vô thân, tiền bạc không có, nghề nghiệp cũng không thành thử ai dám mướn? Vả lại bị "bad credit" với landlord rồi, thì mọi chuyện bắt đầu cực là cái chắc. Trước đó Adam làm công tử đã quen, cái gì cũng free cũng có người lo kể cả kiếm vợ cho cũng người khác lo dùm. Nay mọi chuyện cực quá xá. Rồi thời gian trôi qua, ngồi buồn một mình trong căn apartment vắng người, vợ thì đi làm xa. Khát quá, mới thấy một ly nước mà mình lú lẫn để chỗ nào tìm hoài không thấy. Nước đó là nước trái cây, để ở một góc tường. Nay uống thử một miếng, chết sớm càng tốt để khỏi gặp bà Eva đâu có hiền gì? Không dè nước trái cây để qua đêm ngày trở thành rượu. Khà một cái sao thấy... đời vui quá. Nước gì uống vô thấy ấm cả tấm lòng. Đời lên hương từ đây, bà xã rầy thì kệ bã, nhậu xong là mình ngủ rất ngon. Còn trước đó uống toàn là sữa dê của bà Eve bắt uống hoài ớn muốn chết. Đó rượu bắt đầu từ đó mà xuất phát ra.


Cái câu người xưa nói không sai chút nào: "Nam vô tửu như kỳ vô phong" (nghĩa là đàn ông mà không có chút rượu ấm lòng thì như cây cờ không gặp được gió vậy). Còn nhớ Quan Vân Trường trước khi trảm Văn Xú ngoài trận tiền về được chủ soái Tào Tháo thưởng cho một ly rượu nóng ấm lòng đó sao?

Hát bội ngày xưa thường giắt cờ sau lưng ,tướng càng cao lon thì cờ càng nhiều, trước khi đào kép ra đóng tuồng thường thường kép chánh xin tổ cho phép uống một chút rượu cúng tại bàn thờ, rượu vào thì múa gươm đao mới linh nghiệm. Bên đich cũng cờ giắt lưng bên ta cũng cờ giắt lưng, đường đường quang minh chánh đại, thà là bị địch chém chết tại trận tiền chớ không chịu bỏ chạy trước ba quân tướng sĩ. Ước gì mấy tướng tá của mình trước khi ra trận thì lưng nên giắt những lá cờ như vậy, để khỏi bỏ dân chúng mà chạy lên phi cơ tàu chiến ra ngoại quốc, bỏ lại ba quân lính tráng... ở tù hết cả chục năm trời.


Bây giờ trở lại rượu sướng hơn. Nhiều người thường thắc mắc tại sao rượu mạnh có chữ tên là V.S.O.P hay V.S.P. Những chữ này sẽ định giá tuổi rượu, mặc dầu lò rượu tung ra thị trường ghi là già đến vài chục tuổi, nhưng ai tin? Phải có một ban thẩm định viên nếm rượu quốc tế có bằng cấp đàng hoàng. Hàng năm lễ hội người ta đến nếm và ghi điểm vào những giấy niêm phong. Lò rượu nào mà ăn gian thì kể như thân bại danh liệt trọn đời. Những lò có danh tửu không thèm làm vậy, con nít nó cười. Bỏ qua vụ nếm rượu dịnh giá trị đi. Nói chuyện sau này.


Thật sự rượu mạnh có nhiều danh hiệu nghe quái dị vô cùng, càng lên cao càng thấy ớn, chớ không phải chạy ra chợ Tàu mà mua là xong. Tên nghe rùng rợn sau đây: Triomphe, Veille Reserve, XO, Extra Anniversary, Cordon Blue... được in màu vàng ngân rõ ràng của những danh tửu sau đây: Courvoisier, Hennessy, Martel, Remy Martin, Bisquit, Hine, Camus, Denie Mounie, Monnet, Otard, Augier, Comandon, Delamain, Exshaw, Gautier Freres, Prunier, Salignac... Còn nếu bạn chỉ biết lèo tèo vài tên giống như anh hàng xóm sát vách thì đích thị anh thuộc loại đi mua rượu của mấy tiệm ba tàu rồi. Cùng chưởng hết lấy gì làm vui? Còn dở hơn anh nông phu miệt lục tỉnh, biết phân biệt loại rượu đế nào tên là Bà Quẹo, rượu đế Cả Cần, Mỹ Tho hay rượu đế hiệu 2 Cây Cầu ở Vĩnh Bình (riêng loại rượu đế này tôi có hỏi nhà làm rượu đế danh tửu này, hỏi đúng một tay bợm nhậu đứng xớ rớ gần đó. Anh ta nói uống thứ rượu này xong thì một cây cầu đi không vững té xuống sông là cái chắc, nên phải có 2 cây cầu, té cây này còn cây kia!" Chịu phép Thày rồi).


Còn nữa nói chưa hết. Riêng tại Pháp họ kỳ thị người ngoại quốc lắm, miệng họ cười cười vậy đó chứ họ khi dễ mình lúc nào mình không hay cho mà coi, họ kỵ mấy anh American trọc phú lắm. Họ thường nói "Tụi Mỹ nó biết gì miệng nhai hotdog, tay cầm lon bia, mắt ngó trừng trừng tụi đá banh cà na football, lâu lâu ra ngoài đường gây sự với Mỹ đen là tụi nó vui rồi". Họ có những loại rượu chỉ bán tại Pháp mà thôi, không có dư để mà xuất cảng như: Jean Danflou Grande Champagne, Madame Gaston Grand Fine Champagne, Croizet Age Inconnu và Frapin Chateau de Fontpinot. Riêng 2 loại sau cùng Croizet Inconnu và Frapin Chateau de Fontpoint đều dành riêng cho chủ lò uống riêng mà thôi, chẳng lẽ chủ lò danh tửu lại phải chạy ra ngoài chợ mà mua rượu của mình về đãi bạn bè? Đôi khi mừng sinh nhật hay đứa cháu ra đời họ mới bày ra bán đấu giá cho thiên hạ ớn chơi, mua vé vào cửa để rồi tiếc nuối ra về vì nghe đồn có thằng cha nào điện thoại từ Madrid mua hết cả thùng sáng nay rồi, nghe đồn là chủ hãng xe Ferrari bên Ý ghé qua Madrid mần ăn nghe đệ tử báo cáo, hết hồn mua cấp tốc, kẻo mấy thằng "dân ngu khu đen" mua trước thì tức ngàn năm vương hận. Danh từ Age Inconnu: có nghĩa là không biết tuổi, muốn đoán ra sao thì đoán, y như tuổi cũa mấy cô ca sĩ Saigon vậy, lần nào hỏi em cũng nói đôi mươi cách đây gần 25 năm rồi cũng nói... em đôi mươi. Thiệt là Age Incconnu, đừng hỏi tuổi em là gì?

Vậy rượu Cognac là gì?


Tiếng Mỹ gọi là Brandy, tiếng Pháp gọi là Cognac. Cognac là một loại rượu mạnh tại Pháp, vang danh thiên hạ, như bên Tàu có rượu Ngũ gia Bì và Mai Quế Lộ. Chính rượu Mai Quế Lộ này mà tướng Quan Công chém rớt đầu Nhan Lương Văn Xú vào một mùa đông tuyết rời miền cực Bắc nước Tàu.


Brandy là một loại rượu được cất từ rượu chát mà ra, Cognac cũng vậy, họ dùng champagne cất ra. Xứ nào cũng có Brandy, nhưng Brandy là Brandy còn Cognac là Cognac. Cognac tên một làng của Pháp chuyên môn cất chế ra rượu mạnh tên làng nổi danh thành ra tên riêng luôn. Như ta có Bát Tràng nghĩa là đồ gốm Bát Tràng (nay tại Hà Nội). Cognac nằm ở miền Nam nước Pháp, rộng khoảng 250 ngàn acres.


Bên ngoài là biển Atlantic, còn trong thì có dòng sông Charente. Cognac chỉ là một tỉnh lỵ nhỏ nằm trong 3 tỉnh lớn: Angousmois, Saintonage và Aunis. Trong thời gian bị trị bởi La Mã, thì những tỉnh lỵ này ngoài sự làm rượu nho họ còn làm muối biển rất ngon, cung cấp cho toàn vùng Châu Âu. La Mã có tiền nhiều nhờ những công nghệ này. Riêng con sông lớn Charente là nơi ghe xuồng tấp nập mua bán, xuôi ngược Bắc Nam. Nếu không nhờ một lái buôn, người Hòa Lan gốc Đức, tên là Den Helkenwijk thì chúng ta sẽ không có loại Cognac ngon mà uống đâu. Ông lái rượu này chuyên mua rượu Pháp chở bằng ghe xuồng sang Hòa Lan, ngày kia ông tính toán thấy càng chở càng lỗ vốn, thùng tônô rượu chát quá cồng kềnh, khiêng vác tốn nhiều tiền công sức. Chẳng lẽ dẹp nghề của ông cha mình để lại? Mà rượu chát đỏ hay trắng toàn là nước là nước rất nhiều, tại sao mình không làm cách nào ít nước để dễ chuyên chở, rồi về đến bển thì pha thêm nước vào tiện lợi đôi bề. Nghĩ là làm, ông nhờ một lò rượu tìm cách chưng rượu chát dùm ông. Dĩ nhiên chủ lò nghĩ trong bụng: bộ cha này khùng sao đây? Nhưng cũng nghe lời, đem thùng rượu chát đỏ mà chưng cách thủy.


Tiếng HòaLan gọi là Brandewijin (nghĩa là burned-wine = đốt rượu) Thành thử ngày nay thế giới xài danh từ Brandy thì không lấy gì làm lạ.


Đun nóng đến một nhiệt độ vừa đến 173o F (tương đương 78.3 độ C) thì rượu chát bốc thành ethyl-alcohool. Hơi nóng được đông lạnh lại thành một chất rượu mạnh, chính ông lái rượu và chủ lò cất rượu uống ly rượu đầu tiên thì té chỏng gọng, ngủ khò nguyên đêm. Thức dậy cả hai lấy làm hoan hỉ vô cùng. Nhưng muốn trở thành Brandy thì phải chưng cất thêm một lần nữa, uống vài ly rồi thì khà vào lò, lò phựt lửa thì thành công.


Còn Brandy tại California thì độ mạnh của rượu lấy ra được 85% alcohol. Tại Pháp người ta dùng loại cân rượu tên là Gay-Lussac, độ ghi là 40 độ G.L nghĩa là chứa 40 % alcohool. Còn những xứ thuộc ảnh hưỡng của Anh Quốc (Great Britain) thì người ta dùng danh từ Proof, nhưng qua đến Mỹ thì Proof được hiểu theo nghĩa khác rồi. Nói thì hơi kỳ cục, bên Anh Quốc họ dùng chữ Proof nghĩa là rượu mạnh đến độ nào đó, được pha thêm chút thuốc diêm sinh (loại dùng trong thuốc súng, gốc là Sulfur) Dĩ nhiên khi pha loại thuốc súng đó vào rượu thì xin đừng uống nghen, uống vào chết ráng chịu. Mà họ tính đúng cân lượng của họ rồi bật diêm lên, hỗn hợp đó nổ cái ùm... Đó là proof của Anh Quốc đấy. Và 100 British Proof có nghĩa là chứa đến 57.1% alcohool. Còn qua Mỹ thì Proof họ nhồi lên gấp 2 lần. Vídụ như độ rượu bên Pháp người ta ghi là 40 G.L thì tại Anh Quốc người ta ghi là 70 proof British, còn qua bên Mỹ thì người ta ghi là 80 proof U.S.A. Proof hay không proof dân nhậu không cần, mà chỉ cần uống vào một cái là thấy lửa cháy rần rần trong người, thêm một miếng mồi nhậu, rồi thêm một ly nữa... thì cho dù ngày mai sa địa ngục ta cũng không sợ, phải không?


Brandy khi cất xong thì chỉ có một chất lỏng trắng trong, có vị cay vị say. Nhưng nhờ dân Cognac cất loại này trong một thùng tônô (tonneaux) thì ra màu vàng nâu sẫm. Thùng tônô (tonneaux) này chứa được khoảng 350 lít (157 gallons). Bên Pháp nhờ một loại cây đặc biệt là cây sồi mọc ở rừng Limousin Forest (hướng Bắc trên núi của vùng Cognac). Loại cây này rất cao lớn, thớ gỗ rất mịn không rỉ nước, nhiều chất tannin (chất đăng đắng của cây). Chính chất này tạo hương vị của Cognac mà không nơi nào trên thế giới làm được. Muốn dùng cây này phải lựa cây thọ đến 100 tuổi sắp lên cây mới xử dụng được, trước đó cây còn non, thì hương rượu vị cognac cũng còn non tay luôn. Khi cây Limousine Oak này hạ xuống thì phải có thợ chuyên đóng thùng tônô (tonneaux) bắt tay vào việc mới được. Họ cưa ra từng miếng dọc dài hình chữ nhựït, chất ra ngoài sân có chút bóng mát, vì quá nắng cây sẽ nứt rạn ra. Để chừng khoảng 3 năm mưa nắng thì xài được rồi, từ đó họ mới đóng thùng tônô để bán cho lò rượu. Hãng đóng thùng tônô nổi tiếng tại làng Taransaud thường mở lớp dạy học trò chuyên môn đóng thùng rượu mà làm sinh kế. Học khoảng trên 4 năm thì hạ sơn được rồi. Khi bạn ghé đến lò rượu Cognac thì đừng quên ghé đến làng Taransaud này.


Nhiều lò rượu danh tửu như Camus hay Delamain thường thích chứa rượu trong thùng tônô cũ mua lại, vì sẽ làm mùi rượu thơm hơn thùng mới toanh.


Mỗi loại Cognac làm ra cho một mùa nho, thường thường người ta chứa trong một hầm sâu, gọi là Chais. Lý do sâu dưới đất thì không khí không bị thay đổi nhiều như trên mặt đất, càng sâu càng tốt, dưới sâu thì không khí oxygen không nhiều, không làm cho rượu chua, như vậy mới tốt cho rượu. Rồi người ta đóng số, và năm cất dưới hầm. Rồi chờ vài chục năm thì khui hầm ra bán, mỗi hầm rượu bán ra thì con cháu 3 đời ăn không hết số tiền lời đó. Cho dù thùng kín đến mấy, không một giọt nào chảy ra được, nhưng khi khui ra thì rượu đã mất từ 3 đến 4 % trong lượng thể tích, mà chủ lò thường nhún vai gọi là phần của Thiên Thần giữ cữa "à la part des anges". Như vậy toàn tỉnh Cognac hàng năm Thiên Thần đã nhậu mất lên đến khoảng 15 triệu chai lít. Xuống những hầm rượu sâu thấy vách tường đá có những lớp rêu đen nghịt bởi nấm fungus (khoa học gọi là: Torula compniacensis fungus). Đó là bằng chứng rượu được thiên nhiên thời gian nhúng tay vào. Khoảng 5 năm đầu tiên trong thùng tônô chất tannin của cây sồi tác dụng với chất acid của cognac rượu, rồi giảm lần lần theo thời gian. Sau 5 năm nữa thì màu vàng nhạt sẽ biến thành màu vàng hổ phách, thì vị chi rượu đã 10 tuổi rồi. Nhưng không phải để quá lâu, nếu để quá lâu thì coi chừng Thiên Thần nhậu sạch bách chỉ còn thùng không mà thôi. Nhưng tại sao chai rượu Cognac lại ghi 50 năm tuổi thọ? Là vì họ chờ đến năm thứ 10 thì họ khui thùng tônô rồi sớt ra chai cất vào chỗ khác.

CÁCH MUA RƯỢU VÀ ĐÁNH GIÁ RƯỢU BIẾU :

Danh hạng rượu:


3 Stars (***) (đôi khi ghi là V.S): là loại rượu trẻ non tay nhất. Nhưng được tiêu thụ nhiều nhất, đem lợi nhuận nhiều nhất, vì giá phổ thông cho dân ghiền, bạn bè nhiều đếm không hết thì nên mua loại này mà mời tụi nó lại nhậu. Tụi nó cũng vui rồi. Tuổi rượu từ 3 đến 5 tuổi.


V.S.O.P (Very Special Old Pale): Có người cho là Very Special Old Product gọi như vậy không đúng sách vỡ. Mà cũng không phải chữ Pale là mặt xanh lè của những tay ghiền rượu khi đụng thứ quá mắt tiền, mua thì hết tiền mà không mua thì lại tiếc. Pale đây là màu lợt của màu rượu thứ hảo hạng. Uống vào thấy khoái cả cần cổ. Nó ngọt như mía lùi vậy. Dân có treo cờ sau lưng "Nam hảo tửu như kỳ hữu ... phong" rất khoái bợ chai này về nhà mà ... ngó ngày lẫn đêm. Tuồi già cũa nó từ 7 tuổi đến 10 tuổi đời.


Napoleon: là loại Hoàng đế, Ngài Ngự của những lò làm rượu. Chủ lò nâng niu loại này nhất. Đây là con gà quý dùng để cáp độ với chư hầu ngoại bang đây . Được khen thua cũng là loại này. Danh từ Napoleon thật sự không ăn nhậu gì đến tên của Hoàng Đế Pháp đâu. Hoàng Đế Pháp Napoleon là dân đau bao tử mà, không thấy ông lúc nào cũng thọt tay vào rờ bao tử hay sao? Dân đau bao tử làm sao nhậu được? Chữ Napoleon dược in long trọng kế cần cổ chai rượu. Còn những loại rượu nào mà in nguyên cái hình Hoàng Đế Napoleon đầu đội nón vành như nón cối vậy thì là thứ giả, họ in hình Napoleon để cho "dân ngu khu đen" đem về hù vợ con mà thôi. Chớ gặp tay nhậu 6, 7 sao cần cổ rồi sau ót nó cười chạy không kịp. In hình là trật sách vỡ rồi. Thật sự có nhiều lò rượu không thèm dùng chữ Napoleon làm chi mà họ xài danh từ Cordon Blue cũng đủ bảnh rồi.


* Cordon Blue: tương tự như chữ Napoleon vậy. Lò Martell hay Bras d’Or của lò Hennessy hay lò Monnet chọn chữ Anniversary nghe lạ tai hơn. Đặc biệt lò Poli Gnac xài danh từ nghe ứa gan cho "dân ngu khu đen" là "Reserve Prince Hubert". Dân nhậu thường hỏi nhau là: "Hubert" là thằng cha nào vậy? Vua xứ nào vậy cà? Bộ nó biết uống rượu. Còn mình chỉ biết uống sữa bò hay sao? Mua hết đem về cho nó biết tay mình.


* Extra, hay Extra Veiile hay Grande Reserve: Đây mới là thứ quý của trần gian hoa lệ. Nhiều người nghe nói đến chứ chưa thấy bao giờ huống chi được rờ nó. Kẻ viết bài này nghe đâu đây có vài người trên trần gian này có được mà thôi, hình như họ chết chôn theo nó rồi không chừng. Tuổi già cũa nó sơ sơ là 45 tuổi sắp lên. Nghe đồn tín đồ hảo tửu phải đến thánh địa mỗi năm vài lần để chủ lò quen mặt rồi mới chui xuống hầm đem lên bán cho tín đồ làm phước. Dĩ nhiên tín đồ thỉnh nó đem về thì nghèo gần chết luôn. Rồi mua về loại rượu cực quý trần gian này để đem vào tủ kính trưng nó một cách trịnh trọng. Mỗi lần ăn cơm xong, chạy lên ngó nó rồi mới chịu đi ngủ ngon. Để rồi vào một đêm tối trời nào đó thằng con cưng độc nhất trong nhà chạy dỡn như ma đuổi, chạy đến tủ kính... đổ một cái ầm chai rượu thờ bể theo thì tín đồ ghiền rượu đó kể như từ rày về sau gặp rượu nào ngon cách mấy uống vào cũng như nước ốc luộc vậy. Đúng là Thần Kinh thương nhớ mà mang bệnh tâm thần luôn.


Nhằm bảo vệ thanh danh nước Pháp về rượu Cognac không bị những con buôn lưu manh làm mất mặt danh tửu, nên nước Pháp năm 1921 ra một luật lệ rất nghiêm khắc trừng phạt nặng những chủ lò mất lương tâm pha chế rượu tầm bậy tầm bạ. Không được phép pha thêm chất caramen (nước đường thắng màu vàng nâu) vào rượu để nhìn tưởng rượu lâu tuổi, khi khui hầm rượu không được quyền sửa đổi năm sanh tháng đẻ của rượu, nghĩa là không được tráo giấy khai sanh.


Khi vào chai dán nhãn thì phải đúng tuổi tác của rượu, nếu gian lận thì bị mất môn bài vĩnh viễn. Nhưng từ trước tới nay những danh tửu của những lò vang danh thiên hạ chưa bao giờ làm chuyện này, vì họ quá giàu rồi, nhiều khi họ không muốn bán rượu ngon của họ nữa mà nhượng lại cho bạn bè hay những đại danh nhân nước Pháp mà thôi.


Tại Anh Quốc người ta thường uống rượu trung bình (như 3 sao chẳng hạn, 3 stars) họ pha thêm soda cho bớt tốn rượu, đó là loại V.S khoảng 3 tuổi thâm niên. Còn loại V.S.O.P chỉ cần một ly rất nhỏ là đủ hương vị thơm ngon của đất trời tụ vào, chất ấm của lửa, chất lạnh của hầm sâu, thâm niên công vụ vài chục năm làm cho rượu không còn vẻ loắt choắc con nít như V.S nữa. Chất này không thể dùng ly cối hay tô đá được. Loại ly cối hay tô đá là dành cho tụi "lông nách một nạm, trà tàu một hơi", loại phó thường dân uống trà kiểu ngưu ẩm (ngưu ẩm là uống ồng ộc như trâu rừng vậy). Loại rượu này chỉ được rót trong cái ly chân dài có bụng nhỏ như trứng ngỗng vậy. Nhờ sức ấm của lòng bàn tay sốc sốc rượu vài lần trong ly, rồi vừa chiêu một ngụm nhỏ và hít một hơi nhẹ của mùi rượu vào phổi đễ thấm vào tứ chi. Còn rượu chảy vào trong ruột ấm thấm vào đầu mình tay chân. Thử nhìn tay sành đời về rượu uống thì biết rồi so sánh với một tay chuyên môn uống sữa bò. Gương mặt hai anh này khác nhau xa, tương tự như một gương mặt của tay anh hùng Kinh Kha, còn gương mặt kia là của anh... cả đần, tối ngày ... sờ vú mẹ.

Dân Mỹ mặc dầu mua rượu nhiều nhất của Pháp, nhưng vẫn không được Pháp trọng vọng, thử nhìn hình quảng cáo từ bên Mỹ về rượu ngon của Pháp thì biết. Một tay chủ ngân hàng bụng bự sói đầu, tay cầm ly rượu to bự Cognac V.S.O.P còn tay kia cầm điếu xì gà bằng bắp vế gà lôi, như vậy giống như anh chàng Al Copone rồi còn gì? Rượu ta làm cực khổ hết sức, dành để cho Công, Hầu, Bá, Tử, Nam chứ đâu để cho dân ăn cướp mà dòng họ tên Don Corleon, Maraconi uống xong rồi đi ăn cướp? Mất uy hết rồi còn gì?

Bạn còn nhớ vào năm 1960 Pháp và Mỹ có một trận giặc mà sử sách gọi là "Chicken War" (gọi là gà mái chiến tranh). Chiến tranh xong rồi thì biết bao nhiêu dân nhậu bỏ mạng vì nó? Gà Mỹ rất rẻ và to con được nhập ào ào vào Pháp tuy thịt không ngon nhưng dân nghèo rất no bụng. Nhìn thử con gà Pháp thì biết nhỏ con, gọn ghẽ (poule de lux). Còn nhìn con gà Mỹ thấy mất hứng liền, to con sồ xề mà du côn nữa. Nhưng nhờ rẻ quá, gà Mỹ đánh bại gà Pháp.


Chợ nào cũng thấy gà Mỹ bày bán rần rần, quá rẻ. Nông dân nuôi gà Pháp biểu tình phản đối gà Mỹ làm cho trại họ thua lỗ sặc gạch. Chính phủ Pháp liền nhúng tay vào, đánh thuế gấp đôi gà ngoại nhập. Mỹ thua lấy làm nóng mũi liền đánh vào rượu Pháp nên Trâu Bò hút nhau... dân nhậu chết ngắt, không rượu, không gà, không bia, chết sướng hơn...




Lò Rượu Cognac :


Không có chữ A đầu tiên, chữ A là để cho dân nhậu xỉn gần quắt cần câu rồi, nên lò rượu Pháp kỵ chữ A xếp đầu.


BISQUIT DUBOUCHE:


Tại Janac vào thời kỳ vua Napoleon thua trận . Lập năm 1819 , nó là một trong Tứ Đại Thiên Vương làng rượu. Số lượng sản xuất khá nhiều và ngon. Có 3 hầm rượu chứa đến 20 triệu gallons rượu này. Năm 1966 chủ lò đành phải chịu thua với số tiền chất đầy sân của nhà Ricard (nhà chuyên rượu ngọt danh tiếng), nên giao lò cho đại công ty này. Có 3 hạng trong kho được ghi như sau: 3 Stars, V.S, rồi V.S.O.P kế đó là Napoleon, rồi Fine Champagne, sau đó là Extra Vieille. Nhưng trần thế ít khi gặp loại Extra Vieille, chỉ thường thấy loại Napoleon mà thôi. Nhưng mua loại Napoleon thì uống hết chai mình cũng buồn y như Đại Đế Napoleon, người buồn vì mất nước, người buồn vì hết tiền mua chai nữa!


CAMUS:


Trước đó là do nhóm hùn hạp với nhau tên là "La Grande Marque" lập từ năm 1863 cho đến 1930 thì đổi tên là Camus. Bán mạnh qua những xứ Đông Aâu như Anh quốc và Nga. Cầm đầu tổ hợp này là dòng họ Jean Batiste Camus. Họ có nhiều lâu đài đẹp như chuyện thần tiên vậy, có rừng thông xanh mát, và nhiều hồ rộng lớn để hàng năm ngỗng trời về đây nghỉ mát chơi nghe thử tên là biết: Chateau du Plessis, Chateau d’Uffaut. Lịch treo tường phong cảnh thường chụp lâu đài này hoài.


Lò này mỗi năm tung ra trần gian trên 8 triệu chai Cognac mang tên Camus. Cũng đánh hạng rượu như trên là: 3 Stars, V.S., V.S.O.P rồi Napoleon. Nhưng vào năm 1963 họ tung ra một loại rượu quý đánh giá 100 năm lập quốc của triều đình Camus tên là Celebration. Đắt tiền nhất hạng tên là Hors d’Age hay Reserve Extra Vieille, chỉ xuất hiện quanh vùng Cognac, Paris chưa thấy bóng dáng nó huống chi Los Angeles hay New York. Đây xứng đáng danh hiệu là Liệt Lão Anh Hùng còn tụi Nhóc Con đừng rớ tới nghen? Còn một loại mà ta gọi là: Đại Lão Cái Thế Anh Hùng mang phù hiệu cái thế quần hùng là: Chateau D Uffaut Grande Fine Cognac. Hàng năm chủ lò Camus chỉ tung ra trần gian hạ giới độ 2000 chai mà thôi, mà trong khi đó đã có trên 10 ngàn người xếp hàng rồi, thì làm sao tới bạn. Đặc biệt chủ lò không nhận bán qua điện thoại và không bán nguyên thùng, chỉ bán lẻ từng chai mà thôi, như vậy trọc phú ngân hàng Mỹ Quốc hay chúa trùm Mafia cũng chịu thua luôn, còn muốn thì cho đệ tử đứng xếp hàng cả ngày như bên Xã Hội Chũ Nghĩa bên Nga dạo nào thì cứ việc.

Nhưng chủ lò vẫn dấu tuyệt chiêu trấn sơn ngự thủy mang tên là: Chateau Plessis Extra Fine cần cổ màu vàng chói. Chủ lò dùng để biếu tặng những vị nguyên thủ quốc gia lên núi thăm lò Camus. Chai này được đánh số thứ tự khi ra khỏi trấn sơn ngự thủy lâu đài Camus. Họ đã cho 1 chai cho Hitler vì nếu không cho bị ăn bom là cái chắc, họ cho Tổng thống Charles de Gaulle khi Paris được giải phóng, còn anh hùng Thế Chiến Tướng 4 sao Eiseinhower được họ tặng chai Chateau d’Uffaut Extra Fine mà thôi, Tây già mũi lỏ khôn thiệt.

COURVOISIER:


Đặc biệt hãng này không có ruộng nho và cũng không có hầm riêng chứa rượu nho của mình, nhưng công ty này hàng năm lại bán đến 25 triệu chai courvoisier. Lập ra năm 1899 họ nổi tiếng nhờ mua trữ những hầm rượu mới khui hầm ra, rồi mua thêm những hầm rượu ngon khác mà đem về pha chế theo cách riêng của họ. Đúng ra là năm 1790, Mr. Courvoirsier là lái buôn rượu, ông mua từ những hầm rượu rồi bán lẻ ra thị trường từng chai một. Nhưng đến lúc nào đó thị trường quá nhiều rượu nên hãng ông bị chậm lại, rượu ngon thì quá đắt bình dân mua không nổi, còn rượu dỡ thì quá nhiều bán không lời, cho nên Mr. Courvoirsier nghĩ ra cách riêng của mình. Ông mua những hầm rượu đắt tiền, rồi pha trộn với những rượu rẻ tiền thành ra một loại rượu của ông đứng vào hạng B gần hạng A, nhưng bán rất nhiều, ngon hơn rượu dỡ, lời quá mong ước. Làm giàu rồi thì khoái quen lớn, lúc đó Mr. Courvoisier cứ nằng nặc mình là bạn thân của Vua Napoleon lúc còn trẻ khi Napoleon làm Trung Úy Pháo Binh. Không hiểu lúc đó Napoleon có biết uống rượu hay không đây? Chẳng lẽ ra đảo St Helene mà hỏi đại đế Napoleon? Dân Pháp rất thích quen những tay to mặt lớn cho nó oai, đình đám rượu chè liên miên nó mới khoái.


Công ty Courvoirsier đến năm 1900 bán cho gia đình cự phú Simon bên Anh (chuyên môn rượu nặng), rồi đến năm 1960 thì lọt vào dòng họ Canada chuyên về rượu mạnh là họ Hiram Walker, trứ danh Johnny Walker nhãn đỏ hay nhãn đen (mà dân Saigon thường gọi là thằng Johnny đi bộ. Đi xe hơi mà uống rượu thì tù là cái chắc, đi bộ chắc ăn hơn). Courvoirsier đánh thứ hạng là: 3 Stars, V.S.O.P, rồi đến Napoleon, cao cấp nhất là Extra Vieille.


DELAMAIN :


Do gia đình De la Main, người Anh gốc Pháp. Sir William Delamain được phong tước là Marshall of Dublin (bên Anh), đất đai rộng vô cùng. Ngày kia đời cháu giàu có về Pháp vinh quy bái tổ, năm 1759 lập ra hãng rượu để hưởng nhàn và phong lưu tột bực. Năm 1824 đổi thành tên là Roullet & Dalamain. Năm 1935 cháu chắt là Robert Delamain lập ra một từ điển nói về Cognac, cách phân loại ... mà những bợm nhậu biết đọc biết viết nên có để khỏi mua lầm rượu Chợ Lớn. Delamain xếp hạng rượu của mình: 3 Stars, Liquid Gold, V.S.O.P, Long Drink Filano (dân nhậu nghe chữ Long Drink là khoái rồi vì nhậu tới sáng bò càng về nhà mới sướng), cao cấp nữa là Pale and Dry Grande Delamain (30 tuổi), cao nữa là Vesper Tres Vieille, rồi tột cùng là Tres Vieux Cognac de Grande Delamain (không hiểu bao nhiêu tuổi đời đây?).


DENIS-MOUNIE :


Dân Anh thích uống nhiều hơn dân Mỹ, vì Anh mua gần hết rồi làm sao đến New York hay Los Angeles được? Năm 1838 dòng họ lập ra công ty xuất nhập rượu rồi lập lò rượu luôn. Hàng năm họ bán trên 2 triệu chai. Danh hạng gồm: 3 Stars, Gold Leaf, VSOP, Vieille Cognac, cao cấp là Grande Reserve Edouard VII để tưỡng niệm vua Anh King Edward VII lên ngôi từ năm 1901 - 1910, đẳng cấp cao nhất là: Grande Champagne Extra, chua thấy tung ra ngoài trần gian từ hơn 25 năm nay (1972).

HENNESSY:


Cánh tay sắt cầm búa rìu tung hoành thiên hạ, chưa gặp đối thủ vừa ý. Một trong Tứ Đại Thiên Vương trong thiên triều hảo từu. Gốc người Anh, Sir Corkman Richard Hennessy, năm 1865, rời Anh đem một gia sàn kết sù lập lò rượu cho bạn bè mình uống cho phỉ chí bình sanh. Ngày nay hãng rượu hạng trung MOET và CHANDON xin gia nhập đại bang Hennessy. Tích sản công ty tự phụ là có đến 200 ngàn thùng tônnô (toneaux) (tương đương 60 triệu chai). Dân Mỹ lại khoái hiệu này, nên hơn 4/5 được xuất cảng sang Hoa Kỳ. Nhưng đặc biệt hãng này lại có nơi chuyên làm thùng tônô bằng gỗ limousine oak cho những lò cognac nổi danh tại Cognac xứ Pháp.


Danh hạng như sau: Bras Arme (Cánh tay Bạc = tương đương 3 Stars), loại VSOP, loại Bras d’Or (cánh tay Vàng = tương đương VS) Mỹ rất thích loại này. Loại X.O có mùi thơm nhẹ như bông trái plum (đào tím) (tương đương VSOP). Còn loại Extra ít khi thấy tại thị trường lưu linh bên Mỹ, bên Pháp còn ít nói chi Mỹ. Hennessy thu lợi nhiều nhờ bán ra Hoa Kỳ, nhưng họ không xem trọng Hoa Kỳ, họ cho là dân thuộc loại ngưu ẩm hay thứ người "lông nách một nạm, trà tàu một hơi" đó hay sao?


HINE:


Do Thomas Hine làm chủ gốc người Anh, trước đó anh làm nhân công cho lò rượu Ranson & Delamain (năm 1792). Nhờ cần cù và đẹp trai như Aêng Lê nên con gái độc nhất chủ lò rượu Delamain phải lòng. Cha vợ chia một phần lò rượu cho con rể, năm 1817 lò này mang tên Thomas Hine. Anh phò mã này thêm một mớ công thức riêng nên chất rượu khác lò chánh và ngon hơn. Năm 1971 thì công ty Anh mua mất theo stock thị trường. Lò Hine này không có vườn nho riêng, nhưng họ mua về trữ những lò khác bán tống bán tháo, rồi pha trộn và thêm công thức riêng. Hàng năm lò náy bán đến trên 2 triệu chai. Mỹ bợ về nhà hết 90 %.


Danh hạng gồm: 3 Stars (bán tại Pháp và Anh, nhưng sang Hoa Kỳ thì đôi tên ra Sceptre, không có VS, còn VSOP không bán tại Hoa Kỳ bao giờ. Tại sao? Bù lại họ bán riêng cho Mỹ loại VSOP Fine Champagne không bán tại AâuChâu, loại Antique Vieille Fine Cognac bán tại Pháp không tại Anh Quốc, còn qua bên Mỹ họ cho thêm Triomphe Grande Cognac. Loại cực hiếm bán tại tỉnh Cognac là loại Tres Vieille Grande Cognac không bán trên Paris. Dân ghiền muốn có phải thường xuyên đọc báo tỉnh Cognac, rồi sớm hôm sớm mai âm thầm khăn gói về quê Cognac đừng nói cho bạn bè biết, nhưng cũng lỡ chuyến đò vì dân quê Cognac xếp hàng từ hôm trước rồi, trễ thì đợi năm sau vậy.


MARTELL:


Đây là dân Việt nam khoái nhất, vì Pháp đô hộ đem qua, tàu bè chuyên chở cả tháng nên phải mua rượu rẻ bán cho An Nam mới có lời, trước đó thì uống rượu đế hay rượu Tàu Mai Quế Lộ là mừng rồi. Lập năm 1715 vẫn cha truyền con nối, không được bán hãng cho tụi Anh và tụi Mỹ nghen. Di chúc vẫn còn ghi rõ ràng vậy. Đến nay là đời thứ 9 rồi, phẩm chất ngon hơn Hennessy. Dòng họ này chăm sóc cẩn thận từng gốc cây nho của đồi nho trùng điệp miền Nam nước Pháp, làm chủ một phần rừng núi cây sồi limousine oak để đóng thùng, họ rất kỵ thuốc sát trùng phun lên cây nho. Vài năm trước nghe lời xúi dại của Hoa Kỳ mà phun loại thuốc trừ sâu mới chế thay thế DDT, làm họ đổ xuống sông gần 2 triệu lít. Lúc đó... Hà Bá say gần chết. Nho có mùi thuốc sát trùng, dân nhậu đâu có ngu họ có lỗ mũi thính nhất trần gian.


Lúc đồng minh HoaKỳ còn ở VN, nhiều PX của Mỹ mua loại này bán cho GI Mỹ rất nhiều, GI mua ra và bán lại cho dân nhậu Saigon. Mấy anh Ba Tàu ChợLớn cũng sản xuất được rượu Martell, nhưng chất nước thì nghe câu chuyện sau đây: Anh lính Mỹ được vợ Việt giới thiệu có 5 thùng Martell mới thảy xuống từ kho 5 bến tàu, trời ơi, giá sao mà rẻ quá. Đồ ăn cắp mà. Xĩa đô la đỏ ra không cần thối lại. Đãi khách thì đông phải biết. Khách khứa tới rần rần, cười nói như bắp rang, uống vào một hớp rượu Martell, khách phun ra pheò phèo. Móc súng đòi bắn chủ nhà, rượu gì mà khai quá, hình như tụi nó lấy nước đ... ngựa đổ vào cho cùng màu, cho đỡ pha thuốc màu. Võ trái cây măng cục cũng màu vàng tương tự như vậy nhưng rất khai, khách không giận sao được?


Danh hạng rượu: Dry Pale (bán tại Anh), VS tương đương 3 Stars, cao hơn là Medaillon VSOP bán cho nhà hàng loại cao cấp Paris, loại Cordon Blue, loại này nếu mua về thì cất riêng trong tủ hay che lại, vì mấy thằng bạn quen nó thường uống rượu như uống nước lạnh vậy, rất uổng, cho nó uống thứ VS đủ rồi, còn mình uống Cordon Blue một mình khi trăng lên thì sướng biết mấy. Còn Cordon d’Argent chỉ xuất hiện quanh thủ đô Paris mà thôi (tuổi trên 35). Còn Extra Vieille Martell thì chỉ có thượng lưu quý tộc được phép mua từ lò Martell mà thôi (tuổi không dưới 45). Còn muốn có loại trên 50 năm thì vô làm rể lò Martell đi.


MONNET:


Do công ty hỗn hợp bởi nhóm ruộng nho và 3 lò rượu hạng trung, vì năm đó nho trúng mùa nhưng không ai chịu mua nho làm rượu, vì quá nhiều, nên 3 chủ lò rượu thấy thế hợp nhau mà ký hợp dồng tương trợ với nhau, nếu lúc nho hiếm thì 3 lò này phải được ưu tiên có nho trước thiên hạ. Năm đó là năm 1838. Bán rất mạnh tại Thụy Điển, đôi khi thấy rãi rác một vài tiệm rượu ở New York. Nhưng thùng đựng rượu thay vì dùng cây sồi tại rừng limousine, họ dùng cây sồi tại rừng Troncais.


Xếp hạng: 3 Stars (qua Mỹ đổi tên là Regal). Kế đó là VSOP (khá ngon). Loại Anni-Versaire Fine Cognac thì kể như quỷ kiến sầu, quỷ uống vô cũng sầu bi lập tức. Còn loại này mà nếu Hoàng đế Napoleon còn sống cũng mặt rồng hoan hĩ vô cùng tận, tên là Josephine Tres Vieille Fine Cognac, tên nào cũng thấy ngon hết, nào là Josephine, nào là Tres Vieille, nào là Fine, uống một ngụm nhỏ rồi mai lên pháp trường vĩnh biệt cũng OK

OTARD:

Không hãng làm rượu nào lâu đời bằng công ty này. Lập năm 1494 trước đó chỉ dành cho nhà thờ và giáo sĩ cao cấp trong Giáo Hội Thiên Chúa. Mấy vị Giáo Hoàng rất thích loại rượu nho của hãng này, vì những ruộng nho năm nào cũng được mấy giám mục thành Balê đến ban phép lành, uống vào lên thiên đàng là cái chắc. Năm 1795 thì bá tước Baron Otard hậu duệ với vua Stuart King James II bên Anh quốc, nên nhớ lúc đó ảnh hưởng quyền lực triều đình Anh quốc rất mạnh lên nước Pháp. Họ có nhiều hạm đội hùng mạnh nhất thế giới, còn Pháp có nhiều ruộng nho nhất thế giới. Vua King James II bị truất phế bởi vua William of Orange vào năm 1690. Đại gia đình quý tộc Ramford có cổ phần trong lò rượu này. Thật sự Otard bán rất mạnh tại Aán Độ rồi lan qua Viễn Đông (Anh chiếm Aán Độ trước rồi Pháp sau). Xếp hạng: Stars, VS bán mạnh tại Mỹ, loại Baron Otard VSOP Fine Cognac dành cho đơn đặt hàng 5 năm trước đó, trả tiền trước tính sau. Loại Prince de Cognac tuổi trên 25 năm, dân mua thường lái xe Roll-Royce xếp hàng chờ đầy núi đồi của lâu đài này. Loại Charles X chỉ thấy trình bày tại hội chợ triễn lãm rượu quốc tế, không ghi giá bán thì đừng thắc mắc ai biết trả lời. Lính canh gác chai này rất kỷ trong lúc chợ phiên, sợ tay ma men nào làm ẩu thì sao?


POLIGNAC-UNIOOP:


Nội nghe tên cũng thấy nực rồi hai chữ oop oop y chang như mấy tay bợm nhậu ợ ợ vì hơi rượu quá nhiều trong bụng. Đọc âm thanh đúng dân nhậu là: Poli ợ ợ nhắc ợ ợ uni ợ ợï ... oop ... oop mới đúng. Lúc đó xỉn quá trời sầu đất thảm rồi, nhướng mắt hết lên rồi, đọc cà lăm là cái chắc. Thật sự tên nó oai lắm: The Union Cooperative de Viticulteurs Charentais (UNIOOP) lập năm 1929. Nó rất mạnh, không ngon lắm nhưng rất rẻ ngang rượu đế Bà Quẹo vậy, nên dân nhậu nghèo tiền nghèo bạc cũng ủng hộ lắm, tương tự như tôm hùm rất ngon nhưng không có tiền ăn tép cũng được rồi. Năm 1949 hoàng tử không ngai Prince Hubert de Polognac, thuộc họ gia đình vương giả Le Puy (bên Pháp). Còn nhớ giặc cờ đen giết ai không? một trong những hoàng tử họ Le Puy đó, ai biểu không ở Pháp mà uống ruợu mà lặn lội qua Hà Nội làm gì? Lúc đó Hà Nội đâu có 36 phố phường? Giặc cờ đen xơi tái là phải rồi, tại Ô Cầu Giấy đấy. Nhờ "dân ngu khu đen" nghèo mà ham uống rượu nên hãng này chiếm gần 10% thị trường Pháp. Năm 1969 bán lên đến 2 triệu chai hơn. Danh hạng: 3 Stars bán khắp hang cùng ngõ hẽm, loại VS tầm thường nhưng mang tên là Courone, loại VSOP Fine Cognac uống cũng tàm tạm, loại cao cấp nhất là Dynaste Grande Fine Cognac bán rất hạn chế tại Pháp, bùa hộ mạng của họ mà.


REMY MARTIN:


Đây là thứ dữ trong làng rượu, thuộc một trong Tứ Đại Thiên Vương không thua gì Martell quốc hồn quốc túy rặt giống dòng Gaulois Pháp . Lập năm 1724, hiện nay do 2 đại gia kiểm soát: Max Cointreaux (hãng làm rượu mùi có tiếng nhất của Pháp) và Martin Remy G. Remy Martin không có nhãn 3 Stars, nhưng ra liền VSOP (đúng trên 5 năm). Hàng năm bán trên 8 triệu chai, dân Giao Chỉ và mấy công chức đời Pháp tại Saigon rất thích nhậu với tôm càng xanh nhảy lói xói nướng trên than hồng rồi chết luôn cũng không ân hận gì trần thế đầy giả dối ô trược. Hạng Lancet d’Or (Mỹ mua nhiều), loại Grande Reserve bán tại siêu thị phi trường quốc tế miễn thuế nhập nội, mỗi người được l chai thôi, loại Vieille Reserve bán tại bar rượu hạng sang, loại Age Inconnu (đừng hỏi tuổi mà chi, không biết đâu) không bán mà tặng cho những chiến sĩ có công cho đất Pháp? Chắc công uống rượu quá? Napoleon và Fine Cognac nếu được uống một ly là bệnh gì cũng khỏi chĩ trừ bệnh "ghiền" không trị được mà thôi loại Lancet d’Or Grande Cognac nghe như huyền thoại của dân Gaulois? Loại chót Louis XII Grande Cognac (tuổi không dưới 25) được đãi trong những yến tiệc quốc khách. Vua Á Rập, tuy kinh Koran cấm uống rượu, nhưng thích mua tặng cho đại sứ quen của ÁRập, còn dư cất trong tủ sắt chung với hột xoàn lớn nhất nhì thế giới.


Còn lại những lò nhỏ sau đây : A.E d’Or, M. Rangeau, Augier, Brillet, Comandon, Exshaw, Gaston de Lagrande, Marnier Lapostelle, P . Frapin. Những lò này nếu bạn thiếu một vài chai rượu cũng không đáng lo lắm .

ARMAGNAC:

Là một vùng núi cao, cách Charete độ 80 miles (trên 100 cây số). Nơi dây cũng làm Brandy nhưng gọi là Armagnac (rượu mạnh ngang Cognac). Vì những đàn anh giàu có, văn minh dành hết những lò rượu ngon rồi, nên xứ Phù Tang Nhật Bản đành chạy qua tỉnh kế bên Cognac mà Armagnac vậy. Dân Nhật uống rượu đế sake hoài đâm chán nên phải bắt chước văn minh thiên hạ chớ, mua rất nhiều những chất lỏng màu vàng, uống vào là hồn du địa phủ còn hơn nước trăng trắng hôi mùi gạo rượu sake.


Vì tỉnh này chuyên dùng loại cây sồi chất gỗ màu đen black oak, nên chất rượu chứa trong thùng chuyển màu vàng sẫm hơn Cognac, mùi cay nồng hơn cognac vì chất tannin của gỗ cây sồi đen chừng 8 năm thì màu đậm như 25 năm của Martell rồi. Khó phân biệt lắm, muốn phân biệt thì phải tu luyện trong làng lưu linh khoảng trên 20 năm, và có lẽ tại Mỹ thì bằng lái xe của bạn bị treo ít nhất chục lần, có khi bị cúp luôn cho di xe buýt thì mới phân biệt được.


Hảo tửu của Armagnac: Marquic de Montesqiuo, Lafontan, Malliac, J. Gauvin, Iles des Ducs, Larressingle, Kressmann, Domains Boingneres, San Gil, Condom, Pacherene.


Nấu rượu:


Thường thường đến tháng 11 là những lò nấu rượu rất bận rộn vì mùa nho chín rộ. Lò nấu liên tiếp không được tắt củi lửa ròng rã đến 8 tháng, ngày đêm lửa củi phải đúng lửa vì nếu yếu lửa thì rượu sẽ không ngon y như người ta làm đồ gốm vậy, lò cừ phải đun ngày đêm lửa huyền diệu mới biến hóa chất được. Những người nấu lò ăn và ngủ kế lò nấu rượu luôn. Mùi rượu nồng nặc hầm nấu nóng hừng hực không uống cũng xỉn từ lâu, lúc này chủ lò đừng chọc thợ nấu rượu, ông Trời họ cũng không sợ huống chi chủ mập mà giàu. Canh không kỹ lưỡng, nồi xúp de quá ép mạnh lò rượu nổ là thường, chủ và thợ lên gặp thần ma men ở thượng giới dễ dàng.


Chánh phủ thường cử nhân viên đến kiểm soát lò rượu thường xuyên, và những đợt rượu vào thùng tô nô thường có chữ ký của kiểm soát viên. Chữ ký này rất quan trọng khi trình làng cho công chúng xem. Đâu phải dân nhậu nào cũng biết chất rượu? Có dân chỉ biết nhậu rồi lũi dưới gầm giường cho tới ngày mai có biết gì ngon dở đâu?


Rượu nấu xong, để nguội 3 tuần, rồi vào thùng rồi lăn xuống hầm đá của những lâu đài cổ xưa đợi ít nhất 3 năm mới lăn lên mặt đất, rồi vô chai, rồi lên xe ngựa hay xe bò hay xe lửa. Có loại rượu mà chủ lò biết là mùa nho năm nay quá ngon họ đóng dấu để trên 10 năm rồi vào chai rồi cất dưới hầm sâu thêm 20 năm nữa như vậy là trên dưới 30 năm rồi.


Có lần họ nhớ một chuyện một nhà thờ vùng Chateaubernard có nhiều hầm rượu ngon, ngày kia bị bom sập thời đệ nhị thế chiến người ta quên lãng vì quá lâu đời, khi thợ khui hầm rượu ra thì thấy quá nhiều chai rượu ngon nhưng không có giấy tờ chứng minh tuổi tác. Họ mời những chuyên gia nếm rượu danh tiếng trên thế giới đến nếm được ghi là tuyệt diệu. Và nhãn hiệu được dán ghi chữ là Age Inconnu (không biết tuổi). Lúc đó mỗi chai bán đấu giá cả chục ngàn dollars là thường. Dân nghèo đừng hỏi kẽo đau khổ thêm. Có lần vào năm nào đó, hàng trăm ngàn gốc nho của Pháp bị bệnh dịch chết rụi lá hết, đó là vi khuẩn tên là Phylloxera Vastratrix, không có thuốc trị, chỉ còn cách đào gốc lên rồi đốt. Nhiều chủ ruộng nho thấy cây nho mình chết héo lá rồi đốt lửa phừng phừng, ông buồn rơi lệ. Tuy ghét Mỹ thậm tệ, cái gì nó cũng không biết nhưng nó có quá nhiều dollars nên ghét nó chơi cho hả tức. Vụ này Pháp đành phải xuống nước mua hàng trăm ngàn gốc nho giống từ California mà đem về Pháp trồng, chứ nếu không có gốc giống cũa Mỹ thì bây giờ "nhà nho" (xin lỗi lầm chữ làm ruộng thì gọi là nhà nông làm nho thì gọi là nhà gì bây giờ?) trồng khoai mì hay sao?


Vì rượu Cognac đặc biệt như vậy nên mỗi mùa Giáng Sinh, Tết Lễ đến là thiên hạ sốt vó đi tìm rượu về gói lại trịnh trọng dâng sếp như vậy sếp mới vui lòng. Chẳng lẽ biếu sếp bằng một chai sữa bò và cười khè khè và nói thêm sữa bổ dưỡng hơn rượu?! Chỉ có nước cho Sếp nguyên 3 lon sữa bò hiệu hai Trái Núi thấy ngon mắt hơn sữa ông Già. Nhìn hai trái Núi thì cơn giận của Sếp hạ hỏa liền. Trái núi này khó nói lắm. Ngó hoài coi chừng bà xã cho ăn bạt tai rồi la lớn đồ cha già dê không nên nết, ngó gì dữ vậy?


Sagant Phan


Liễu ấm hoa minh hựu nhất khai

Hôm nay khai hội chùa Hương. Lục bài viết cũ kể chuyện lang thang cũ. 5 năm rồi. Lại nhớ câu thơ của Vũ Hoàng Chương

Thôi rồi ra chốn nước non



Lòng son lại để xổ con chim trời


Thú hồ bể quyến mời du tử


Niềm thê nhi khôn giữ được người


Biết sao trái được tính trời


Giang hồ cốt ấy trọn đời phiêu linh.

Ngày xưa hay nhớ mấy câu kiểu "Cực nhân gian chi phẩm giá phong nguyệt tình hoài/Tối thế thượng chi phong lưu giang hồ khí cốt"; "Cảnh vô sơn thủy phi hùng tráng/Nhân bất phong sương vị lão tài"; "Thiên mã hành không, độc vãng độc lai"...Bây giờ mình không phải là đang lang thang sao?

Sơn cùng thuỷ tận nghi vô lộ
Liễu ấm hoa minh hựu nhất khai.

---------------------------------












Dòng sông trắng và bờ sông cũng trắng
Một vệt người
vô vọng
ngó thời gian.
Và họ chết.
Không còn lạnh nữa.


Lửa bồi hồi trong tim nến
Đêm nghẹn lời nhắc lại một ngày xưa
Rất mơ hồ tôi bắt gặp tứ thơ
Câu chuyện cũ tưởng như không hẳn thế
Tự luân hồi ta đã hẹn mai sau
Em sẽ khóc và sương và giá lạnh
Tôi sẽ đàn và lại hát vu vơ
Bài thơ buồn sẽ tan loãng theo sương
Trăng nhắc nhở bằng màu trăng dịu mát
Tôi tự buồn rồi tôi sẽ tự vui

Ừ -thì sương thì trăng thì chiều hôm nắng nhạt
Ừ -loang chiều là một mái chèo xuôi
Ừ -kỷ niệm, ngày xưa là kỷ niệm

Bây giờ, em nhớ ngày xưa
Bây giờ, tôi nhớ ngày xưa

Vàng cơn nắng, trắng cơn mưa
Vịn câu thơ









Hương Sơn.

Lần đầu tôi đi Hương Sơn là hồi bé tí, còn nhớ lại là một ngày xuân mưa gió, một quang cảnh bến Đục đầy bùn, con đường trên núi mơ hãy còn chìa ra sát lề đường...đủ để làm được một bài văn kể chuyện về một chuyến du lịch sau này được cô giáo khen là viết đúng vì đã có chuyện đi đò trong khi lũ bạn thì chỉ bịa...

Một nhóm bạn rủ tôi đi Hương Sơn vào một ngày chủ nhật cuối năm. Hôm ấy là vào ngày rằm cuối năm, nhưng lại vào chủ nhật nên hầu như khi chúng tôi vào đến Thiên Trù thì cũng chẳng có đoàn khách nào khác. Tất cả có mười người, quyết định đi lên núi luôn rồi mới tính chuyện nghỉ lại ở đâu. Chỉ nhớ lúc lên núi nghiệm được bí quyết đi rừng là thong thả, nhẹ nhàng, thăng bằng lại là được việc nhất. Ngày ấy tôi đang trải qua một giai đoạn lạ lùng với chính mình vì chưa bao giờ như thế cả-cái tâm trạng của những năm đầu của tuổi hai mươi. Khi mà tự nhiên tôi thấy không còn có thể định ra được rõ ràng điều gì là tối quan trọng nữa. Tôi vẫn có thể cố gắng đạt được mọi mục tiêu như mọi người nhưng bỗng nhiên tôi thấy nó không hiển nhiên, nhất thiết và chung cho mọi người như trước kia nữa. Ngày trước chỉ lo đi học, giỏi hơn, giỏi nhất ở đâu đó, rốt cùng là đỗ đại học, thế thôi. Bây giờ có một điều gì đó thôi thúc mà không cụ thể được đó là gì. Giờ thì tôi gọi nó là mong muốn có được một lẽ sống để mình có thể tận lực máu xương trong ấy...nhưng trước kia nào tôi có thể rõ ràng thế được. Cũng chưa bao giờ biết tới văn chương hay triết lý hiện sinh gì cả nên cũng đỡ được nhiều cái mũ không cần thiết sau này-duyên nghiệp thường làm tôi có cái may mắn (hay là không may?) là mọi điều rất cũ kỹ với mọi người do đọc mà biết thì với tôi lại là rất vừa vặn khi đã trải qua rồi mà biết được lại có ai đó cũng thế...Phật giáo với tôi lúc ấy chỉ là một thứ mê tín vô hại của bà của mẹ...cho dù đã được lướt qua khi học lịch sử triết học. Triết học chỉ dành cho một thế giới hâm hâm khô khan...Tôi đọc nhiều với bất cứ cái gì vớ được chỉ là một thói quen ham mê nghiện ngập hơn là một chủ ý học tập...Vì vậy lúc lên núi thì tôi đang là vậy, chỉ cảm thấy rất bị thôi thúc vì một nhu cầu nội tâm, một sự bất an mà không ý thức rõ được (ngay cả cách diễn đạt này cũng chỉ là của bây giờ thôi). Cảnh vật nhẹ nhõm trong một buổi sáng khô ráo trong lành. Chúng tôi ghé qua chùa Giải Oan thăm thú. Có một chú tiểu khoảng ba mươi chào đón rất niềm nở. Chú mượn cây đàn ghi ta và rủ mọi người cùng hoà theo một câu niệm Phật. Chúng tôi chỉ nhìn lạ lẫm mà không thể làm theo được, hơi ngài ngại...Một quãng nữa lên đến Cửa Võng có một quán hàng nằm chìa ra mé núi, chúng tôi quyết định nghỉ ăn trưa ở đó. Ngày thường thưa khách nên cô chủ quán rất vui vẻ nhẹ nhàng, nói chuyện một lúc thì quyết định sẽ ngủ lại ở đó tối nay... Buổi trưa trên núi yên tĩnh, trong lành.

Hương Sơn. Sau này tôi còn nhiều lần ghé qua cái quán nước ở chỗ đền Cửa Võng ấy, vì đã thành quen thuộc và ở đây tôi có thể ở lại bao lâu tuỳ thích mà chẳng phải băn khoăn gì. Nhà cô Nhật và chú Biên cũng ở trong làng Yến, nhưng quanh năm luôn có một trong hai người thay phiên nhau ở lại trên núi trông hàng, lên núi lần nào cũng gặp cả. Con Nít giờ không biết còn không, ba năm trước nó đã già lắm và lứa con thứ ba của nó cũng đã là một con chó trưởng thành. Nhưng không con nào khôn như con Nít cả. Ban ngày nó quanh quẩn và như thể không đoái hoài gì nhưng ban đêm thì rất nhanh nhạy, và không lầm người quen bao giờ. Có hai lựa chọn để ngủ qua đêm, hoặc là trong nhà hoặc là trong vách đá phía sau quán hàng. Đây cũng là chỗ rẽ để đi vào Thung Mây. Ban sáng, thường có người đi nhặt củi hay đi vào tiếp tế đồ cho người nhà trong Thung Mây ngang qua chỗ nằm. Nhớ lần đầu nghe tên Thung Mây là tôi và một anh bạn liền mê ngay và xin đi theo hai người có việc đi vào trong ấy cho đi theo. Một bà lão khoảng ngoài 60 và một đứa bé khoảng mười tuổi. Bà lão có nhà trong ấy, hai vợ chồng già ở với nhau, ông chồng là người dân tộc. Mấy hôm vừa rồi có việc ra ngoài làng hôm nay quay vào. Bà gánh khoảng 15kg gạo và các thứ linh tinh bằng một đôi quang gánh, tay phe phảy cái quạt nan-hôm ấy là vào giữa tháng 7, trời rất nóng. Cậu bé vào chơi với bố mẹ đang ở trong Thung Mây. Nhà họ ở ngoài làng Yến nhưng hai vợ chồng vào trong đấy khai khẩn làm vườn và nuôi tằm. Từ Cửa Võng đi vào Thung Mây mất khoảng 4 cây số đường rừng (?); người dân ở đây coi việc đi đi lại lại trong ngày là bình thường. Lúc ấy vào gần trưa, chúng tôi tính đi vào chơi cho biết rồi quay ra vào chiều tối.

Thung Mây-cái tên nghe gợi một thung nhỏ mơ màng trong hẻm núi, với vài nếp nhà và những vườn cây...Đoạn đầu đường khá bằng phẳng, chúng tôi ngỏ ý gánh hộ bà lão một đoạn. Nhưng đến khi bắt đầu gập ghềnh thì bà bảo để tôi gánh nếu không sẽ không đi nhanh được. Mà quả thực, dù mọi người gọi là đường mòn dễ đi mà trong khi cậu bé thì vừa đi vừa chạy nhảy, bà lão vẫn vừa quảy quang gánh vừa quạt phe phảy mà hai anh em chúng tôi thì dùng cả hai tay hai chân vừa vịn vừa bò mà vẫn luôn nơm nớp sợ ngã. Phần nhiều quãng đường là men đá tai mèo, lúc lên lúc xuống đều hơn 1m, sảy chân là tai nạn như chơi. Đất nhiều chỗ trơn trượt, cây lá rậm rạp. Tôi còn đỡ vì khi đi rừng luôn mặc áo dài tay, quần bò, giầy kín an toàn...còn anh bạn thì quen thói áo phông quần soóc nên tha hồ cho lá cứa nát chân tay...Rừng mùa này thì tương đối khô ráo, ít muỗi bọ, nhưng nói chung chẳng ấn tượng gì. Toàn là cây rừng thứ sinh, phần nhiều là cỏ dại cao lút đầu. Cũng chẳng có chỗ nào mà có tầm nhìn bao quát ngắm nghía cả. Cứ cắm cúi đi theo mọi người và hy vọng đến nơi mọi thứ sẽ thay đổi...Bất chợt được bảo là đã đến nơi. Thật là quá thất vọng vì đây rất nhỏ và không có gì đặc biệt. Nghe bảo đi tiếp nữa thì sẽ ra mạn đường đi Hoà Bình. Cảm giác thế nào nhỉ? Bạn cứ tưởng tượng như khi mình nghĩ mình đang ở một góc cùng tận của thế gian rồi bỗng nhiên nhận ra ở rìa mép nó vẫn là cái thế gian thường ngày kia. Cảm giác này còn thường xuyên đeo bám tôi những khi tôi toan tính núp mình vào đâu đó-sống dưới ánh sáng chói chang của mặt trời, trước đôi mắt trên cao của chính mình thật quá khó khăn và đôi lúc hoảng sợ...

Thung Mây. Hình như mỗi lúc tôi đang lơ mơ, ngộ nhận đâu đó thì lại có một duyên may cảnh tỉnh nhắc nhở tôi, giúp tôi nhìn được rõ hơn nữa. Khung cảnh ở Thung Mây là một sự thực chẳng níu kéo chút nào những ảo tưởng về một cái tên. Ở đây rất khô cằn, thiếu thốn. Chúng tôi vào nhà bà lão trước. Đấy là một căn nhà đất tuềnh toàng và rất bẩn thỉu. Một con chó mẹ và lũ chó con lê la trên mặt đất, ghẻ lở, ruồi muỗi. Phân của mấy con chó con thì gọi con chó mẹ vào dọn. Khó mà tưởng tượng được là vẫn còn những căn nhà như vậy nếu chưa bao giờ gặp. Trong khi tôi đang ở trong nhà nói chuyện thì anh bạn tí toáy bên ngoài. Bỗng nghe "Đoàng" một tiếng rất to và tiếng anh bạn la thảng thốt. Tôi lặng người, mọi ý nghĩ trống rỗng trong mấy giây. Tôi chạy ra ngoài. Anh bạn đang bưng mặt. Khói thuốc súng vẫn còn mù mịt và có thể trông thấy xạm khói đen trên mặt anh ta. Nghe tôi hỏi anh nói không biết hai mắt có sao không, nhưng rất đau nhức. Tôi thoáng hoảng hồn-khi còn sáng mắt hai tay hai chân còn chẳng ăn ai, bây giờ mà mù dở thì làm sao ra khỏi đây? Rất may rồi mọi việc đều không sao cả. Hoá ra thấy có cây súng kíp dựa ở hiên nhà anh ta tò mò ngắm nghía. Giương súng nhắm bắn rồi bóp cò vì nghĩ là không có đạn. Biết đâu người dân tộc ở trong rừng lúc nào súng cũng sẵn sàng để phòng những nguy hiểm đột ngột không lường trước. Thật là hú hồn, biết đâu nếu có ai cũng ở ngoài rồi lại ngắm vào nhau mà bắn doạ thì còn ra sao?
Căn nhà thứ hai của hai vợ chồng người nuôi tằm được xây bằng đá để trần. Nói chung mọi thứ đều rất tuềnh toàng tạm bợ, thiếu thốn. Họ cũng trồng vườn nhưng cây cối ở đây không mọc được vì đất cằn cỗi, lại thiếu nước. Họ đã vay một số tiền để vào đây làm ăn. Giờ chỉ còn hy vọng vào lứa tằm đang cuộn kén mà thôi. Mấy trái mít mật được bóc ra mời khách ăn thật khó khăn. Cảm giác ra về là một nỗi băn khoăn trĩu nặng. Không hẳn vì những khó khăn của mọi người ở đây nhắc nhở tôi về những gì mình đang có. Mà còn vì những dự cảm buồn nản về câu chuyện chệch choạc trong căn nhà đất. Nghèo khó luôn đi cùng với thiếu hiểu biết và thường cũng làm con người ta khô khan, thiển cận...Vẻ nhẫn nhịn cần mẫn của hai vợ chồng người nuôi tằm ít nhiều còn gỡ lại đôi chút hy vọng. Và đứa trẻ dù sao nó cũng không ở hẳn trong này...

Hương Sơn. Bữa trưa ở Cửa Võng diễn ra nhanh chóng với đồ ăn đã chuẩn bị sẵn từ trước. Thực ra lần ấy tôi đi Hương Sơn với một sự thờ ơ nhất định và chỉ váng vất đôi chút cảm giác xao động khi đi qua rặng cây thưa ngay đoạn từ bến đò đi vào cổng Thiên Trù thôi. Ngoài ra tôi phải vận dụng nhiều trí tưởng tượng để nghĩ về xa xưa khi rừng còn nguyên sinh và cái ngày mà lần lượt ba vị sư vô danh đến tu ở đây (bây giờ còn mộ tháp ở khu Thiên Trù). Đầu giờ chiều chúng tôi bắt đầu leo vào động chính. Lúc xuống cửa động nhìn mấy bậc thang cũ kỹ, trên còn ghi những dòng nguệch ngoạc từ những năm 1930, tôi chợt nhớ tới câu chuyện đi du xuân của nhóm Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Bính hồi đó. Họ thuê một chiếc thuyền, một đào nương, mang theo cả một con dê cột ở đuôi thuyền. Rồi xuôi theo sông Đáy (?) vào chùa Hương. Sau đấy là câu chuyện về xuất xứ bài thơ Em đi chùa Hương nổi tiếng và cả bài thơ cô hái mơ nữa, kết quả của buổi chiều lang thang một mình của Nguyễn Bính vào Thung Mơ. Thung Mơ ngày xưa hẳn là đẹp lắm...

Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tất

Đó là câu niệm Phật mà sư Tri đã mời chúng tôi cùng hoà theo một hợp âm lúc ở Giải Oan. So với những người khác thì sadi này làm tôi có cảm giác thoáng qua là người có chiều sâu với cách ăn mặc đơn sơ bạc màu, chân tóc lấm tấm điểm bạc càng làm khó đoán chính xác tuổi...Chùa Giải Oan sáng hôm ấy sạch sẽ, nhẹ nhàng, nép mình bên vách núi chênh vênh, nhìn xuống thung lũng và con đường núi trước mặt. Những lần sau, tôi ghé qua đây như một nơi chốn quen thuộc, không phải để lễ bái hay hỏi kinh sách chi cả, chỉ đơn sơ như ghé thăm một người quen biết cũ, cốt để được ngồi ở chiếc bàn gỗ trên mé núi, nhấp chén trà mạn nhìn nắng buổi sáng bâng khuâng với vài bông gạo lẻ loi...Mỗi lần nhớ mấy câu kệ của chú, "Chén trà trong hai tay/Chính Niệm nâng tròn đầy/Thân và Tâm an trụ/Bây giờ và ở đây" thì tôi lại nhớ một buổi sáng cuối xuân đầu hạ nhẹ nhõm với mấy bông hoa gạo lác đác xưa...Sau này rồi bằng những duyên nghiệp nghi ngẫu tôi mới thấm hiểu cái diệu dụng của việc chiêm niệm danh hiệu của Quán Thế Âm bồ tát là như thế nào. Nhưng ngày hôm nay, liệu tôi chắc có thanh thản tụng được một lần câu niệm Phật đơn sơ ấy không, trong tâm an trú và buông xả?

Hương Tích. Bước xuống vài bậc thang đầu tiên vào một ngày vắng vẻ là bạn sẽ có cảm tưởng bước sang một thế giới khác. Dù là từ trên nhìn xuống miệng động như đáy của một cái giếng mà miệng của nó là tít trên đỉnh dãy núi vây quanh, cảm giác như nhìn xuống một thế giới khác riêng biệt, hay là từ dưới nền động dõi theo những cột ánh sáng trong veo hay những thân cây thẳng tắp cuốn quýt dây leo vươn lên tận vòm trời trên cao kia. Mây trắng phiêu dạt. Mỗi tiếng nói đều vang vang âm vọng, điểm xuyết trong tiếng chim rừng chiu chít...

...Khi chúng tôi xuống động là quãng 1 giờ trưa. Quãng này là lúc nhỡ cữ nên hầu như chẳng có lấy một khách lẻ lai vãng. Bên dưới động chúng tôi nhận ra chú tiểu đã gặp lúc ở Giải Oan đang ngồi một mình sắp xếp một tác phẩm điêu khắc đá-một bông sen đá xanh, một bàn chân bằng đá trắng, một viên đá trắng tròn xoe, mấy chữ nho... Một dạng sắp đặt thì đúng hơn. Hình thức không khéo, ẩn dụ lại quá rõ ràng nên hầu như tôi không để ý, còn gần như là phản cảm vì sự vụng về nôm na và một dạng hệ luỵ hình thức. Tôi lơ đãng quay nhìn vòm trời trên cao kia. Loáng thoáng tiếng bạn bè hỏi chuyện..."Cái này để bán à?"-"Có thể"- "Ba cái kia là cái gì"...Trong đoàn chúng tôi có cậu bạn người gốc Hoa, biết một ít chữ nho nên đang ra dáng đạo mạo hỏi chú tiểu "Có phải chữ Phật có nghĩa là người giác ngộ không?" (Tôi không biết nhưng lúc ấy không thích những câu hỏi chỉ có tính khoe chữ như vậy). Chú tiểu ngập ngừng một lúc rồi nói " Thực ra, có nhiều nghĩa khác nhau để hiểu...Một trong các ý nghĩa khác là Phật là người đã đạt đến tự do..." - Tôi không thể tả rõ ràng được điều gì đã xảy ra với tôi lúc đó. Nó không choáng váng, sửng sốt hay gây chấn động, mà là một cảm giác hốt nhiên sáng tỏ-một sự nhớ lại. Bạn biết là cho tới lúc đó ngay cả cái gọi là nội tâm tôi, tôi còn chưa biết cách dùng từ mô tả và ý thức đến. Vậy mà, trong thoáng chốc những danh từ ý niệm Phật giáo vốn đang trống rỗng không có nội hàm trong tôi trở nên sáng tỏ, giản dị, gần gũi, và thiết thân-tôi bỗng biết bản thân tôi, bỗng thấy cùng cảnh ngộ với tiền nhân... Tôi quay lại, chăm chú hơn vào mọi sự, nhưng cũng không hề có ý định bày tỏ gì. (Lúc ấy, tôi cũng chưa hề biết gì về Tịnh độ tông hay Thiền tông chứ nói gì đến những ngữ cảnh, những trạng thái ngộ đạt, các cách biểu đạt thông thường mà bây giờ tràn lan khắp nơi đâu...). Cũng chỉ nghĩ là do tự mình tình cờ biết nên không chú ý đến chú tiểu lắm...Chúng tôi quay lên trên. Tôi hơi bỡ ngỡ nên vô tình đi sau cùng. Chân vừa bước lên bậc đầu tiên thì bất chợt chú tiểu kia nắm chặt cổ tay tôi, ghé tai nói có vị sư còn gọi Phật là cục phân khô cơ...Tôi không còn kinh ngạc nữa, nhưng vẫn lãng đãng đâu đó, không thể trở về được với câu nói đó. Tôi đi lên.

Hương Sơn. Cửa Võng. Buổi chiều ở trên núi qua rất nhanh. Ngày thoáng lặng xuống rồi đêm đã nhập nhoạng đến ngay. Khách vãng lai đã hết hẳn từ cữ 3-4 giờ chiều. Quán hàng của cô Nhật cũng như chùng xuống, trở thành một nếp nhà đơn sơ, dân dã với mấy đứa cháu về chơi. Bữa cơm trên núi tuềnh toàng mà ấm áp lạ.

Đến khoảng 8h tối thì máy phát điện cũng ngừng hẳn. Cả khu vực chìm vào trong một bầu không khí vắng lặng dị thường. Sương lạnh bắt đầu bốc lên làm mọi người tự nhiên quây quần bên ngọn nến đang bập bùng trong hốc đá. Tất cả có phần hơi háo hức và bỡ ngỡ với lần đầu tiên trên núi này. Không biết làm gì trong lúc chờ trăng lên, chúng tôi ngồi nói chuyện bâng quơ miên man...Ngôi đền Cửa Võng ban ngày khách thập phương ra vào nhiều lại nhỏ bé nép vào mé núi nên cảm thấy gần gũi bình thường bây giờ trong đêm bỗng trở lên lặng lẽ, nghiêm trang như thuộc về một cõi khác-khác hẳn, xa lạ...Giải Oan chỉ cách một quãng mà bây giờ tưởng đến cũng như đâu đó diệu vợi..Tiếng chó sủa đêm thỉnh thoảng lại rộ lên, rồi tiếng bước chân của ai đó đi lại, ánh đèn pin loang loáng, vụt hiện, vụt tắt. Tất cả làm mỗi người có lẽ đều bất giác se mình lại...

Cửa Võng. Sau này lần nào lên núi tôi cũng ngủ lại dưới vách đá đó. Nó nằm nép ngay bên đường đi lên động Hương Tích, mặt kia nhìn ra lối rẽ xuống Thung Mây. Buổi sáng nếu ngủ quên, (thường ít khi ngủ quên vì ngủ trên núi người rất nhẹ nhàng, buổi sáng thức giấc rất tỉnh táo.) thì cũng sẽ nhanh chóng bị tiếng chuyện vãn của người lên động hay vào Thung hái củi ghé nghỉ chân làm thức giấc. Buổi tối những đêm sáng trăng thường rất lay động. Nhưng trong những đêm tối trời thì mọi thứ như quánh đặc lại. Đốt một ngọn nến rồi nhìn bóng mình bập bùng trên vách đá còn đỡ. Nhìn ra ngoài cứ hụt hẫng chới với sao sao ấy..phía ấy là thung lũng và đêm tối mù mịt. Đêm giao thừa Thiên niên kỷ, thức với bóng ngọn đèn dầu leo lét, nghe tiếng đài bán dẫn ngai ngái tường thuật chương trình đón thiên niên kỷ mới có một cảm giác thật xa xôi...Dưới quầng sáng mờ mờ của ngọn đèn hoa kỳ, tình cờ tôi đọc trong mẩu báo cũ bài viết của Băng Sơn. Tản bút về Hương Tích, về tiếng hải triều âm, tiếng nhân gian tam sinh, về Quán Thế Âm. "Sơn cùng thuỷ tận nghi vô lộ/Liễu ấm hoa minh hựu nhất khai". Tôi không nghĩ mình đang ở cảnh sơn cùng thuỷ tận vô lộ nhưng lẫn trong tiếng chiếc đài cũ kỹ đang hân hoan kể chuyện thế gian trên mặt đất này, đếm một điểm thời gian tưởng tượng mà lại tình cờ đọc được lời man mác về Quán Thế Âm, về tiếng hải triều âm...một lời tương giao, thì quả thực câu thơ dẫn ở cuối bài viết kia là một duyên lành cho cõi lòng tôi ngày ấy...

Một lần tôi đi cùng năm người bạn. Lúc đến nơi thì có hai người quay về ngay vì có việc. Thành ra lại còn có hai nam, hai nữ (dễ liên tưởng quá nhỉ-mà thật sau này một cô thành boss mình, nhưng không phải tại lần ấy!). Tối ngủ chung tại vách đá này, xếp túi làm biên giới .Trừ mình đã quen leo ra, mấy người kia mệt, loay hoay một chút rồi đều khò cả. Chú bạn ngủ một lúc là bắt đầu ngọ ngoạy, lại còn gãi lung tung...nữa chứ. Mình phải nhoài người ôm chặt, không cho quân gian ác này mượn ngủ mà mơ...Ngày ấy mình trong sáng, nghiêm cẩn lạ, có lúc ngồi dậy mông lung, cũng không hề có ý ngó sang bên cạnh dù một thoáng. Đêm vẫn đen như mực...

Hương Sơn.

Cửa Võng...Để vui chuyện, một cậu bạn đưa ra sáng kiến là mọi người sẽ kể chuyện ma cho nó khỏi phí đi cái đêm tối mông lung giữa rừng như thế này. Mấy cô gái phản ứng yếu ớt vì xem ra tuy sợ nhưng cái phần tò mò đã thắng thế. Phần tôi, lúc này đang miên man với những tri kiến vừa khai mở nên thấy rất rõ tâm trạng của mọi người và rồi câu chuyện sẽ đi đến đâu. Tôi nôn nóng muốn đến lúc thích hợp sẽ chia sẻ những kiến giải về cuộc sống với mọi người và khơi gợi mọi người về một nguồn mạch khác nên cũng thuận theo chiều câu chuyện ngồi nghe. Từng người lần lượt kể chuyện ma mình biết. Ai cũng nhận là chuyện đã chứng kiến nên câu chuyện rất ly kỳ và hồi hộp. Những chuyện tựa tựa như bên topic ma mà mọi người đang kể. Chuyện về căn buồng của bà cụ già mới chết trong ngõ tối khu Hoa kiều đêm đêm có tiếng ho của bà lụ khụ thâu đêm, có người vào lại im bặt...Chuyện thầy cúng ra mộ bắt ma....Tự nhiên mọi người đều thấy gai gai và bóng đêm cũng như tăng thêm phần bí hiểm. Một vài bạn gái đã lộ vẻ sợ hãi và đề nghị thôi không kể nữa. Tự nhiên mọi người lại xoay sang an ủi, động viên và dùng các lý thuyết, thực tế để phân tích và tranh luận về việc có ma hay không, có thế giới bên kia hay không. Xem ra lý giải thì lý giải chứ nỗi sợ hãi e ngại của một số người thì khó lòng mà yên xuống được. Đêm ở trên núi có nguy cơ dài vô tận...

...Tôi biết mình nên làm gì lúc ấy. Tôi đề nghị sẽ thay đổi không khí bằng cách đọc tặng mọi người một bài thơ của Nguyễn Bính, bài "Những bóng người trên sân ga". Tiếng guitar bập bùng xen lẫn bài thơ nhiều cảm xúc nao lòng. Những mặt người thấp thoáng trong ánh lửa nến. Tự nhiên mọi người thấy gần gụi nhau hơn và ấm lại những tình cảm sống, nỗi sợ hãi cõi lạnh đã vơi đi nhiều...Sau bài hát (Thời hoa đỏ) làm tan dần cảm giác lạnh lẽo mọi người chia sẻ cảm giác về những tâm tâm trạng của bài thơ, của sân ga, những chuyến tàu đi...Tôi nhắc lại ý nghĩ của mình về chuyện ma lúc trước. Hình như tôi đã nói đại ý là chúng ta sống trên đời này có nỗi lo sợ lớn nhất là sự không còn tồn tại nữa, không_còn_gì_cả chứ không phải là nỗi sợ chết. Nó núp sau nỗi sợ chết. Thêm nữa là nỗi sợ lẻ loi cô độc, sợ không có ai nhớ nghĩ đến mình như là mặt sau của nỗi sợ_không_là_gì cả kia. Phần tôi, tôi không quan tâm đến việc có thế giới bên kia hay không và đương nhiên tôi không sợ gì ma cả. Thử hỏi, ma có thể làm gì chúng ta (nếu quả ma là có thật), cùng lắm của đau đớn là cái chết thì bây giờ cái chết đâu có phải là cùng tận? Làm ma chả thích hơn làm người à? Không còn phụ thuộc vào thân xác trần tục nữa, có thể lang thang trên ngọn cây, giơ tay níu lấy trăng ngàn và ánh sương mờ đã ướt áo (Hàn Mạc Tử)...Có thể giúp người mình yêu thương...Vậy là sống có người tốt kẻ xấu, chết chẳng lẽ xấu hết à? Chết rồi thì quay ra xấu hết à? Phần tôi, tôi không quan tâm đến những gì mình không thể can thiệp bằng năng lực con người được. Cái tôi quan tâm là làm sao cho hết những gì mình có, để mỗi mỗi phút giây tôi yên vui vì chính mình cơ...Sương đêm đã loãng dần và trăng đã lên cao dần. Ánh trăng dịu mát toả phủ mơ màng phụ thêm phần cho lý lẽ của tôi. Và một cơn xúc động cộng cảm lan toả. Có một cái gì đó thức dậy trong lòng mỗi người. Ai cũng trở về với chỗ sâu thẳm riêng tư nhất và bộc lộ mình theo mỗi cách khác nhau. Có người ngồi lặng lẽ lắng nghe. Có ngươi kể về kỷ niệm tuổi thơ, một kinh nghiệm về xử thế, một nỗi buồn mặc cảm bấy lâu, một nỗi sợ hãi thuở bé...có người khóc nhẹ...Ngồi lặng nghe câu chuyện lòng của mọi người mà tôi thấy bồn chồn vì thấy những tri kiến của mình đã có ích và nó có thể còn soi tỏ vấn đề của mỗi người được. Nhưng tôi không muốn ngắt dòng cảm xúc của mọi người. Tôi chờ đến lúc thích hợp. Nhưng cảm giác rất bồn chồn. Tôi phải ép mình lắng nghe mọi người, tay ghìm ghìm dây đàn mãi một âm điệu bass trầm trầm. Hình như có ai đó đang đi ngoài kia trên đường núi cũng dừng lại lắng nghe những câu chuyện ấy. Mọi thứ đọng lại...

...Rồi đ iều kỳ diệu đã đến với tôi. Càng lắng nghe, lòng tôi càng chùng lại giãn ra thư thả. Tôi không chỉ hiểu điều mọi người đang nói, mà tôi biết. Tôi biết mọi việc là như thế, mọi người là như thế. Tôi đồng cảm và chia sẻ với mọi người từ sâu thẳm mà không còn mảy may ý định biện bác ngôn từ. Một niềm an lạc khôn tả. Mãi đến tận bây giờ tôi vẫn thấy đấy là kỷ niệm diệu kỳ nhất mà tôi đã có được, mặc cho những kiến thức mới, kiến giải mới là như thế nào. Bây giờ thì tôi đã biết cái học với cái tu nó cách nhau một sợi chỉ đường tơ mảnh mai như thế nào. Nếu giây phút tỏ ngộ dưới động Hương Tích là cái loé sáng chỉ đường thì cái giờ phút lãng đãng bên Cửa Võng đêm rằm tháng chạp năm ấy là sức sống chân thật nâng đỡ tôi trên mọi nẻo đường tinh thần âm u. Không bao giờ tôi còn bị đánh lừa bởi cái hời hợt của lý giải biện luận nữa, dù nó cần thiết. Tôi chỉ tin những luận lý, ngôn từ khi trong tôi cũng sống động tràn đầy cảm nghiệm sinh động. Và mỗi lúc vấp váp quỵ ngã đau lòng hay những lúc ốm đau mệt mỏi, tôi thường dùng chính nó để soi lại chính mình, xem mình thực ra đang ở đâu. Và luôn luôn cái đêm sáng trăng sương mù mịt, một đoàn người lang thang khắp núi mơ màng là nguồn an ủi nâng đỡ tôi mỗi lúc...