Hiển thị các bài đăng có nhãn việcđọc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn việcđọc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 31 tháng 3, 2009

Đọc văn bản, đọc ngôn ngữ




Ảnh: người Việt ngày trước



Có 1 ý liên quan đến việc đọc những cuốn sách "cổ xưa". Nếu đọc chơi thì không vấn đề gì lắm nhưng nếu định đọc để biết nó thực sự nói gì thì thiên nan vạn nan. Tôi nghĩ không thể đọc một tác phẩm như Kinh Thánh chẳng hạn mà có thể tách rời khỏi các vấn đề về văn bản học, ngôn ngữ học (*) rồi phải kể đến một sự am tường về lịch sử, văn hoá, địa lý...của bối cảnh cuốn sách nếu chưa tính các vấn đề về dịch thuật. Than ôi, việc này nói thì ai chả biết nhưng làm được lại là một việc khó như lên trời. Ví như trên blog của Cao Tự Thanh, hay Đông A thỉnh thoảng đề cập các sai nhầm của việc đọc, hiểu, thì thấy rõ.

Suy tư triết lý thì không ai cấm, nhưng định phổ biến với người khác thì phải tự biết coi chừng.
Coi chừng cái gì?
Coi chừng bị mắng cho là "Tao nhã kiểu nhà quê!" như mấy bạn trên Thivien.
Đấy mới là mấy bài thơ thôi nhé.

-------------
(*) Nhớ là chỉ hai chục năm nay ngôn ngữ của chúng ta đã biến đổi rất nhiều đừng nói chuyện nghìn năm. Có thể xem bài về Kiêng huý học trên blog Cao Tự Thanh.

Nhân tiện lại nhớ "nghĩa mới" của từ "tinh vi-vi tính" là do bà béo Minh Vượng nói đầu tiên trong GNCT. Nhưng có lẽ nghĩa này không sống lâu được. Ngôn ngữ tuy võ đoán nhưng cũng không phải là quá tuỳ tiện.

Thứ Ba, 23 tháng 12, 2008

Homo Faber-Max Frisch

- 1 môi trường rộng lớn, quốc tế hoá/tiêu chuẩn hoá. Sự tiến bộ. Sự tha hoá của con người.

- Những cảm giác của 1 con người: cảm giác yêu thương, cảm giác tội lỗi, sự sợ chết, do dự, lo lắng...

- Giấc mơ li dị: cảm giác li khai, nhu cầu cá biệt hoá.

- Để khắc hoạ sự đối chọi, có cách rất đơn giản: sự phi lý, sự hi hữu, ngẫu nhiên, oái oăm...của cuộc đời. Nhưng cuộc đời có cần quá nhiều những thứ phi lý như vậy để dẫn dắt những cảm thức "con người" kia không?

- Những năm 1950s. Thời kỳ hậu chiến. Hippy. Ý thức hệ.

- Khi vắng mặt những sự kiện li kỳ, phi thường-cuộc đời con người ta vẫn vốn dĩ rất phi lý và oái oăm-làm rõ nó ra.

- tr38: xác suất và nghiệm sinh-chúng ta chỉ có 1 cuộc đời để trải nghiệm.

- Các nhân vật đều cô độc và tự vấn. Họ có tài, có cá tính, và có khả năng để được lựa chọn cũng như có vẻ họ có nhiều lựa chọn. Nhưng họ vẫn bị cuốn đi bởi những trải nghiệm nghiệm sinh của họ. Thực ra họ có tấm lòng rộng mở và có thể yêu thương bất cứ điều gì nhỏ nhặt nhất từ cuộc sống. Nhưng họ vẫn bị phân li với cuộc sống.

- Lồng ghép hình thức nhật ký. Sự hồi tưởng đem lại cảm thức gì?

- Thói quen quay phim. Tại sao phải quay phim? Để nhớ lại? Đã chọn lọc và đã sắp xếp. Tại sao không trải nghiệm trực tiếp hiện tại? Nó có vẻ mâu thuẫn với việc trình bày câu chuyện dưới dạng kể lại-hồi ký?

- tr41: Không phải chuyến phiêu lưu kỳ thú/sự vắng mặt cái huyền bí. Khi nào thì phát sinh cái huyền bí? Khi tin vào sự vô hạn hay sự hữu hạn?

- Những cây agaua trên sa mạc: loài cây chỉ ra hoa 1 lần rồi chết.

- Ánh trăng và sự thực. Óc liên tưởng là dối lừa hay sao?/Về phép gợi gián tiếp của nghệ thuật phương Đông và quá trình suy tư vô tận-để hoà mình vào tiến trình-để chạm được vào những thứ vô hình (FJ).

Tặng Hana.

- Cảm giác nhớp nháp ở xứ nhiệt đới hoá ra lại là cái làm cho người ta ghi nhớ là đã sống.

- Đoàn tàu tiện nghi trong đêm. Qua rừng.
Luôn luôn tôi nhớ những chuyến tàu đêm đi Yên Bái, Lào Cai..nhớ cái ấn tượng đến ám ảnh của lần đầu tiên. Con tàu cổ lỗ, còi hơi. Hành khách là những người bình dân-đủ mọi hạng người, nhếch nhác..Cái không khí chộn rộn, ngai ngái của sân ga về đêm, dưới ánh đèn điện vàng vọt. Cái giọng nhắc tàu rất đặc biệt, đặc biệt ngang với chương trình ngâm thơ trong mục Văn nghệ của đài tiếng nói VN lúc đêm khuya gần Tết âm lịch. Xe ôm, xich lô, khuân vác, chè chén..người đưa người tiễn, cái dáng vẻ láo nháo ngơ ngáo tìm nhau. .Sự vội vàng của người về, vẻ bồn chồn của người đi...



Con tàu sẽ rục rịch rồi đi qua phía lưng của những khu phố cũ. Tôi ngồi trong toa ghế cứng (đấy mới là nơi của đa số mọi người), nhìn qua khung cửa. Không bao giờ người ta chú ý đến phía sau ngôi nhà cả. Con tàu như đi qua một thế giới chưa hề thay đổi-một thế giới, cũ, nhếch nhác và không hề mảy may làm duyên làm dáng. Thảng hoặc có xuất hiện vài người thì cũng là những phút giây không hề duyên dáng, cũng chẳng buồn ngó con tàu..Tất cả là một thế giới không phải của hiện tại. Khi tàu đi qua đoạn Đường Thành, tự nhiên thấy khác lạ vô cùng. Phố cũ Hà Nội nhìn từ trên cao xuống thấp thoáng sau hàng bàng đã thưa lá ngày cuối đông thật yên tĩnh khác thường. Từ trên đây thấy phố chả khác ngày xưa chút gì.



Ngang qua sông Hồng, gió bắt đầu lộng thổi. Cây cầu Long Biên xa xa trong ánh đèn vàng mờ mờ một quầng..cầu chỉ riêng cho người đi bộ và đi xe đạp-chủ yếu là xe đạp thồ, nhiều nhất vào sáng tinh mơ, khi mọi người chở rau sang phố..Thành phố lãng quên nhiều thứ quá, nên mới còn đầu sông cuối bãi này để mà đôi khi ta ra ngó cho lòng dịu lại...Tôi luôn thấy chuyến tàu là một hình ảnh thật giống với hình ảnh cuộc đời. Đủ mọi hạng người trên cùng một hướng đến đại thể. Ngồi lên đây rồi là không ai nghĩ đến một hướng đi khác nữa-không chọn lựa. Ở trong xe lửa là yên tâm nhất. Mọi sự vẫn trôi đi mà khối sắt thép này là đảm bảo tuyệt đối cho sự an toàn trước mưa gió ngoài kia. Có thể gặp vô số cảnh đời nơi đây: một cụ già về quê, một gia đình chộn rộn có con nít, những người đi buôn, những người đi làm, những đôi lứa đi du lịch, những người không thể biết...Trên tàu cũng có sự phân biệt, có trật tự riêng..trật tự của những người cả cuộc đời ở trên dòng lắc lư này.



Khi đêm đã hơi muộn rồi, trời se lạnh thì mọi người đa phần đều ngủ hay gà gật. Tàu đang đi qua những cung đường vắng. Một vài ngọn đèn vẫn bật đủ soi mờ tỏ những dáng hình con người. Mọi người cố xoay sở cho mình tư thế thoải mái nhất có thể: những cái áo đắp tạm, người thì nằm ngang, chân gác qua thành đối diện, có người mắc võng và không ít người nằm luôn xuống sàn tàu có hoặc không có tấm gì kê lưng. Tạm bợ, tất cả đều tạm bợ vì chuyến đi chỉ là tình cờ, mọi người đều chờ đợi sự sạch sẽ tại nơi đến của mình. Bất giác tôi liên tưởng đến một cái nhìn trong suốt-tôi luôn ao ước có ai vẽ ra bức tranh ấy:trong con tàu, loại trừ đi những vách ngăn, nơi này là những người nằm ngồi la liệt, khoang bên là sáu con người một gian..mỗi người một tư thế, một dáng vẻ trong một thế giới ba chiều. Ai cũng bàng quan nghĩ rằng mình đơn lẻ, riêng tư...Ai đó nói mê, một vài người trở mình, thỉnh thoảng có người quờ quạng đi về phía toa lét, băng qua những cái chân ngáng, len lách giữa những thân người. Mỗi lần ngồi trong một toa tàu tôi thường luôn tìm một hình dáng nổi bật nhất. Một cô nào đó sẽ được chọn làm hoa hậu và hễ cô còn ở đó và không bị thay thế thì cảm xúc của tôi vẫn còn trung thành với cô đấy...Bất chợt một vài người bừng tỉnh, lục sục đồ đạc. Giọng thông báo ngái ngủ, con tàu sắp dừng lại một ga lẻ nào đó. Khuya rồi. Sương lạnh xuống mờ mịt. Con tàu dừng lại giữa một quãng rừng vắng. Trong đêm tối, cái ga xép chả thấy đâu, quầng sáng vàng vọt chỉ đủ soi thấp thoáng cây cột điện, hình như có nếp nhà sàn..Vài ba người xuống tàu, rồi vội vã tan mất vào trong đêm tối. Không biết giữa rừng thế này họ đi về đâu? Cũng không ai để ý họ cả, mọi người chìm trong giấc mộng mị, thấp thỏm..

- Tôi liên tục ngủ mơ...(không mơ thấy Hana)

--------------------
Chuyện người da đỏ.


Người đàn ông nhìn thấy con chim ưng bay qua trước cửa bỗng nhiên bỏ nhà ra đi. Người vợ gặp lại dười âm phủ bèn hỏi. Câu trả lời là: vì con chim ưng vẫn bay.


--------------------

- "Tôi nghĩ về Yoakkim. Nhưng đích thực, về cái gì nhỉ?"

- tr65: thứ âm thanh "vè vè ong ong, không to nhưng dai dẳng, ám ảnh, gợi nhớ tiếng ve sầu rả rích, nhưng đanh và đơn điệu hơn"-Mình nhớ cảm giác lúc nghe file nhạc của VNT mà bạn KH gửi cho. Thì ra là nhớ đến đoạn này. Buồn cười, đóng kín cửa phòng làm việc để nghe và đóng bộ tịch nghiêm trang trước sự ngạc nhiên của thằng Đức.


"Máy tính anh bị làm sao đấy?"


"Nghệ thuật Hậu hiện đại đấy."


Btw, tinh thần HHĐ: sự tái lập giá trị Khai Minh. Giải phóng con người, tự do cá nhân và chủ nghĩa nhân bản.

- "Anh chàng người Mỹ" và những di chỉ Inca làm mình nhớ Mỹ Sơn và Kazic.
Bị chìm đi ở Palenke. "Ở đây người ta quên hết thảy".

- Có lẽ những khung cảnh được khắc hoạ giống như là những ký hoạ sống động.

- tr211: tôi nhận thấy lứa tuổi lại có vẻ rất hợp với nàng, chỉ trừ cái cổ hơi nhẽo làm tôi nhớ đến cổ con rùa. Tôi lại xin nàng hãy bỏ quá cho những lời của mình.

Erini-nữ thần (Erinnyes) của sự nguyền rủa và trả thù. Nhưng với những người biết hối cải lại trở thành những nữ thần lòng lành phù hộ. Ơmêniđa (Chính là Những kẻ thiện tâm).

- Nhưng chính tôi chẳng phải cũng thường trình bày 1 sự kiện như là những gì đã qua. Thậm chí mọi cấu trúc hành văn luôn trượt qua (phía trước hoặc phía sau) của tâm điểm. Tâm điểm bị phớt qua, thậm chí là lờ đi trong tiêu đề. (Đi mãi thì đến Chèm). Đấy không phải là sự cố ý mà đúng hơn là sự cố gắng tái tạo bối cảnh và cảm xúc. Những thứ thực sự lan man và không thể quy chụp riêng rẽ.

- tr221: hạng đàn ông: 1 đám người mù quáng, bị tước đoạt mọi tiếp xúc với thế giới xung quanh.

- Những liên tưởng so sánh hình ảnh-tôi nhớ những đám mây tuổi thơ.

Ngày xưa mây trắng bay phiêu dật chân trời. Buổi chiều mùa hè. Nắng đầy chiều. Lũ trẻ đu mình trên cây xoan bên bờ mương, dõi nhìn phía bầu trời trên cánh đồng. Mây trắng hình gì ấy nhỉ? Thi xem ai tìm được nhiều hình nhé! Dịu nhẹ. Ký ức ấy rất nhẹ nhõm trong cõi lòng tôi vụn vặt.



Tại sao Yoakkim lại tự tử?
Tại sao Herbert lại thay đổi? Theo kiểu bất cần như vậy?
Nađa.

- tr278: khi xem 1 bộ phim, điều đó đã không còn nữa.

- tr302: sống trên mặt đất-có nghĩa là sống với đời.

--------------------
Khi đã bắt đầu tưởng tượng thì sẽ phải tưởng tượng rất dài. Và sau đó thì rất dễ thất vọng, lập bập. Nhưng thực tế mọi chuyện cũng chịu được. Rút từ thực tế.


--------------------



Làm thế nào để "nghe" 1 bản nhạc? Giữ cho tâm trí thả lỏng như 1 mặt nước hồ hứng những giọt nước mưa là những âm điệu. Không liên tưởng, không ghi nhớ, không chờ đợi. Đơn giản là "nghe" vậy thôi. Không để tâm trí vướng kẹt lại ở chỗ nào.



Sự thuần khiết. Tính cực đoan. Dọn dẹp tâm trí tốt nhất là bằng âm nhạc không lời.



Âm nhạc và cử động. Mọi người múa may vô thức theo điệu nhạc. 1 phản xạ có điều kiện hay là sự tương đồng giữa ngôn ngữ động tác của cơ thể và âm thanh?


---------------------

- Vì 1 mục đích cụ thể, họ (Yoakkim hay Herbert-yes, nước Đức) đã vượt qua mọi chướng ngại. Chính quá trình trải nghiệm đã biến đổi con người họ. Một kiểu mất phương hướng? Đầy ứ sự tương đối. (Nađa). Hay chỉ đơn giản là sự thoái lui, buông xuôi? Vì sao? Vẫn chưa thực sự nghĩ ra điều này.

- Mọi chuyện trở lên "chẳng là cái gì cả". Cái gì đã biến đổi con người kia? Những cảm giác của con người? Tại sao Yoakkim? Tại sao Herbert? Vì sự bối rối nào? Quy chiếu vào mình và nhận ra mình nhỏ bé?

- 1 thế giới dường như không còn giới hạn về kích cỡ quả đất nhưng lại còn ẩn tàng rất nhiều nếp gấp mà người ta còn phải lật đi lật lại bằng cuộc đời mình để hiểu. Sống và trải nghiệm cảm giác của mình với ý thức về sự nhỏ bé của chính mình. Sống với ký ức, trí nhớ, tình yêu và những điều dang dở. Sống với nỗi bất an mà chỉ còn biết an ủi mình bằng những cảm giác về cuộc đời.

---------------------

P/s: Homo Faber của Max Frisch là cuốn tiểu thuyết tôi thích đọc lại nhiều nhất (cho đến giờ). Hình như mới chỉ có 1 bản dịch duy nhất và xuất bản 1 lần duy nhất vào năm 1986 của NXB Tác phẩm mới. Bản dịch của Hoàng Hữu Phê và Đặng Hồng Trung từ bản tiếng Nga. Tiểu thuyết luận đề của 1 nhà văn tay ngang xuất thân KTS người "Thuỵ Xỹ". Hình như có tên trong bình trọn 100 cuốn sách của TK20.

Cuốn sách khá dầy in bằng loại giấy xấu đen ngòm hoá ra lại rất có sức ám ảnh tôi. Mỗi lần đọc lại đều có thể bị lôi kéo cho đến tận kết thúc. Luôn luôn là cái không khí hồi tưởng buồn buồn cảm động mà không mất đi vẻ khoát đạt thoáng đãng đến nao lòng.

Mỗi lần nhớ lại tôi thường nhớ đến cụm từ "những cây agaua trên cát". Và cái nóng ẩm ở Palenke. Chắc là tâm trạng muốn thoát đi. Đến tận cùng trời cuối đất. Mà không cần viện đến cái độc đáo, hùng tráng màu mè. Chỉ là muốn thoát đi.

Cũng có thể là vì trong câu chuyện đều đều lầm rầm này các nhân vật đều có tuýp tâm trí rất khoát đạt. Không ai ti tiện. Không ai gùn ghè. Kể từ gã macô Cuba trở đi. Còn cái tên Hana thật đẹp. Không hiểu sao lại có cảm giác như vậy. Mỗi khung cảnh cũng sống động nữa. Tôi cứ liên tưởng đến những ký hoạ bằng bút sắt. Hẳn là lên những mẩu giấy bất kỳ. Đã định viết hẳn 1 review về cuốn sách này. Nhưng mỗi lần đọc lại đều chỉ muốn để nguyên như thế. Có khi những gạch đầu dòng linh tinh cũng sẽ giống như những ký hoạ kia: luôn dang dở và day dứt. Ở giữa cuộc sống và tác phẩm.

Thứ Ba, 30 tháng 9, 2008

Entry for October 01, 2008

Nguyễn Hiến Lê-Tự học một nhu cầu thời đại.
-----------

- Lòng tự tín: Thành công hay thất bại do khả năng tinh thần của ta thì ít mà do thái độ tinh thần của ta thì nhiều.

- Nghị lực: Sống một đời sống bằng phẳng, uỷ mị quá, nghị lực của chúng ta sút đi nhiều lắm; nhưng ta vẫn có nó chứ không hoàn toàn thiếu.

* Đọc sách::
- Ta thường suốt ngày không ăn, trọn đêm không ngủ để suy nghĩ, vô ích, không bằng học-Khổng Tử.

- (Tuy nhiên) đọc sách cũng có thể là 1 cách làm biếng rất nguy hiểm, nếu đọc chỉ để cho qua thì giờ, để được ở không mà khỏi hối hận rằng không làm 1 việc gì.


- "Cho tôi biết anh đọc những sách nào, rồi tôi sẽ cho anh biết anh là hạng người ra sao"-lời đó đúng, nhưng tôi sẽ biết rõ anh hơn nếu anh cho tôi biết anh thường đọc lại những sách nào-F.Mauriac.

- Quá 1 tuổi nào đó, đọc sách làm cho óc ta không hoạt động sáng tạo nữa, Một người đọc nhiều quá và không chịu gắng sức suy nghĩ thì óc dễ sinh lười-A.Einstein.

Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2008

Nguồn gốc từ "Diệt chủng"-coppied




1- Bài coppy từ blog bác Hai lúa nổi tiếng. Mình thấy nó hay vì giúp hiểu hơn cái thực tế chính trị ở tầm quốc gia, quốc tế nó thế nào. Có thể giúp hạn chế bớt các kiểu áp đặt lối suy nghĩ và hành xử kiểu cá nhân lý tưởng lên các thực tế chính trị phức tạp của các đám đông 1 cách ngây thơ và mù quáng.


Nguồn gốc từ "Diệt chủng"

Diệt chủng nghĩa là gì?

Ngay từ những ngày Cuộc Chiến Lạnh sắp sửa cáo chung, nhân loại chưa kịp mừng, thế là hàng triệu con người bị sát hại bởi những chiến dịch diệt chủng tại Iraq, Bosnia, Rwanda, trong khi Siêu Cường độc nhất còn lại trên thế giới, với sức mạnh đả biến thiên hạ vô địch thủ của nó, là Hoa Kỳ, đã điềm nhiên tọa thị, chẳng hành động gì cả. Cũng vẫn xứ sở đó, đã hành động chút chút, trong việc ngăn chặn Hitler sát hại hàng triệu người Do Thái, hay ngăn chặn Khờ Me Đỏ tàn sát hàng triệu người dân của nước này, vào thập niên 70 và 80.

Làm sao mà Hoa Kỳ, lãnh đạo của thế giới tự do, lại hành động một cách "khó hiểu" như vậy, đó là câu hỏi mà Samatha Power đã xỉa xói vào chính cái quốc gia đã chấp nhận bà – bà vốn là người gốc Ái Nhĩ Lan - trong cuốn sách "Một vấn đề từ địa ngục" (A Problem from Hell: Mỹ quốc và thời đại diệt chủng, 384 trang, nhà xb Basic Books).

Câu chuyện của bà bắt đầu với cuộc tàn sát gần nửa triệu người Armenians, bởi Thổ Nhĩ Kỳ, trong Cuộc Chiến Lớn I. Vị đại sứ Mỹ bên cạnh Đế Quốc Ottoman đã không làm sao kêu gọi chính quyền "ở bên nhà" đáp ứng, khi ông khiếp đảm chứng kiến những hành động dã man cứ thế xẩy ra hàng loạt. Lẽ dĩ nhiên, những sức mạnh của Âu Châu cũng điềm nhiên tọa thị. Nhưng tại Ba Lan, một người Do Thái trẻ tên là Raphael Lemkin, mất hết hồn vía vì sự thất bại của con người trước cái ác, đã dâng hết cả đời mình, cố cầm cây thương đâm cối xay gió, nghĩa là dai như đỉa đói, nằng nặc bắt buộc cộng đồng thế giới phải làm một cái gì đó, để cho cái ác câm đi, nghĩa là đặt ra ngoài vòng pháp luật, cái điều mà anh đặt tên là "diệt chủng". Một cách nào đó, anh đẻ ra cái tên này, gốc từ tiếng Hy Lạp và La Tinh, hai trong khá nhiều ngôn ngữ anh thuộc làu làu.

Lemkin đã thất bại trong toan tính ép buộc Washington và London phải thừa nhận, rằng Hitler đã có những ý định diệt chủng, và thất bại ngay cả trong toan tính ép buộc hai ông đầu sỏ này phải làm một cái gì đó, để ngăn chặn Hitler, một khi những tin tức về những trại làm thịt người đã bung ra ngoài. Và anh đã mất hầu hết gia đình tại Lò Thiêu. Sau chiến tranh, như một oan hồn lang thang giữa những hành lang tòa nhà Liên Hiệp Quốc, than khóc kêu gào, mãi tới tháng Chạp 1946, cơ quan này mới động lòng, thông qua nghị quyết, đưa vào cuốn từ điển của cơ quan cái tên DIỆT CHỦNG, kết án nó, và kêu gọi nhân loại ký vào một bản kiến nghị, coi đây là một tội ác. Vậy mà cũng phải mất hai năm trời, LHQ mới chấp nhận, và sử dụng tên gọi diệt chủng, và phải mất 40 năm, nước Cờ Hoa mới ô kê (ratify: phê chuẩn). Tuy rằng tòa án Nuremberg có bóng gió xa xôi tới từ này, khi hạch tội mấy trùm Nazi, nhưng phải đợi tới tháng Tám, tân thiên niên kỷ (2001), Radislav Krystic, tư lệnh quân đội Serbs đã từng tấn công những vùng an toàn được LHQ bảo vệ (the UN protected ‘safe area") tại Srebrenica, Bosnia, và tàn sát hàng ngàn người theo Hồi Giáo, ông này là người đầu tiên hân hạnh được gọi là một kẻ phạm tội diệt chủng.

Từ "chỉ tên" - tức chấp nhận từ "diệt chủng" (genocide) – tới "chỉ người" - đây là kẻ thứ nhất phạm tội diệt chủng – trong khoảng "giao thời" đó, Khờ Me Đỏ nắm quyền kiểm soát Cambodia, khởi sự tra tấn và sát hại một cách có hệ thống những cựu viên chức, lính tráng, trí thức – luôn cả gia đình của họ – những sắc dân Việt, Hồi, Hoa, và tu sĩ Phật giáo. Trong vòng chưa dầy 3 năm, Khờ Me Đỏ làm thịt, bỏ đói 2, trong số 7 triệu dân Cam Bốt. Một chuyện khủng khiếp như thế – làm thịt chính nhân dân của "chúng mình" – thật khó tin, lúc thoạt đầu, nhưng mãi sau đó, cũng chẳng có thế lực quốc tế nào lên tiếng, can thiệp, nhằm chấm dứt, kể cả Liên Hiệp Quốc và Mỹ. Trớ trêu là, sau cùng, chính quyền Cộng Sản Việt Nam, vì những lý do, và quyền lợi của riêng họ – lẽ tất nhiên – đã xâm lăng Cam Bốt và chấm dứt những trò dã man trên. Nước Cờ Hoa, khi đó được dẫn dắt bởi Jimmy Carter, ông này lúc nào cũng giương cao ngọn cờ dân quyền, đây làø trọng tâm chính sách ngoại giao, nhưng lại coi ưu tiên hàng đầu: phải bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc; đã hùa theo (follow) nhà nước Cộng Sản này, khi hỗ trợ Khờ Me Đỏ chống lại chính quyền Hà Nội. Cả hai nước Mỹ và Trung đều coi Việt Nam là chư hầu của Xô Viết. Phải tới năm 1990, khi Cuộc Chiến Lạnh sắp sửa trở nên lạnh hẳn, Washington mới ngưng hỗ trợ Khờ Me Đỏ.

Thập niên 1980, Iraq lâm chiến chống lại Iran của Khomeini, ông giáo chủ này tố cáo Mỹ Quốc là Quỉ Bự (Great Satan), hễ có dịp là hành hạ tới chỉ người Mỹ; nước Mỹ đã hỗ trợ Iraq trong cuộc chiến trên, và làm ngơ chuyện Saddam Hussein sử dụng võ khí hóa học chống lại dân chúng Iran. Trước khi thập niên 80 chấm dứt, Hussein quyết định sử dụng cùng những thứ hơi độc này chống lại sắc dân Kurds vốn chiếm chừng 1/4 dân số trong nước của ông ta. Vào năm 1987 và 1988, ông đã làm thịt gần 100 ngàn người Kurds, phá hủy làng mạc, và toan tính nhổ sạch tận gốc cái gọi là văn hóa của sắc dân này. Chính quyền Reagan vờ đi, coi như không biết, và vẫn chấp nhận chế độ Baghdad như là đồng minh của họ. Hoa kỳ chỉ ra ray nghĩa hiệp đối với người Kurds vào năm 1991, tức là sau Cuộc Chiến Vùng Vịnh, khi người Mỹ dấn vào cuộc chiến nhằm xua đuổi quân đội Iraq ra khỏi Kuwait.

Power, tác giả cuốn sách chúng ta đang bàn tới, đã nhấn mạnh hai lý do đưa đến thất bại của thế giới, và đặc biệt, của Hoa Kỳ trong việc ngăn chặn những tội ác diệt chủng kể trên. Lý do thứ nhất: cháy nhà hàng xóm, bình chân như vại; vốn được gọi bằng cái tên hoa mỹ là: không muốn xâm phạm vào chủ quyền của một đất nước khác, vì đây là những công chuyện nội bộ của họ. Hậu quả của nó, một khi bạn làm cỏ một vài sắc dân thiểu số, ở bên trong xứ sở của bạn, đó là quyền của bạn, tôi không dám xía vô. Cũng là quốc gia như nhau, cường quốc hay không cường quốc, đất nước nào cũng có quyền tự do làm điều mà họ muốn làm, đối với chính nhân dân của họ. Và Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1915; Hitler, thập niên 1930 và 40; Pol Pot, Saddam Hussein, Slobodan Milosevic, và cả một tập đoàn sát nhân Hutu đã lợi dụng, và khuếch đại quyền "tự do" nêu trên.

Lý do thứ nhì thực sự không liên hệ tới lý do thứ nhất. Những ông, những bà vốn có quyền quyết định đường lối ngoại giao tại nước Cờ Hoa – và hầu hết phần còn lại của thế giới – họ đã cảm nhận về chính họ: như là những con người "thực tế" (realists); nghĩa là hành động vì lợi ích của chính quốc gia họ, và ít quan tâm tới những công chuyện có tính nội bộ (domestic affairs) của những nước khác. Viên bộ trưởng ngoại giao Mỹ, James Baker, đã diễn tả thật là tuyệt vời, cái tính "thực tế" của chính sách trên, qua câu nói, khi xẩy ra những vụ nhổ cỏ thì phải nhổ cả gốc, làm sạch những sắc dân khác (ethnic cleaning) ở Bosnia: "Chẳng có một con chó Mỹ nào bị kẹt ở đó." (We don’t have a dog in this fight: Chúng ta không có một con chó nào ở trong trận đánh này).

Quyền lợi quốc gia của Mỹ Quốc, như ngài Bộ trưởng ngoại giao, và những người như ông định nghĩa, là như thế này: nó sẽ không bị ảnh hưởng bởi những yếu tố ở bên ngoài. Số phận của những người dân Armenians, Do Thái, Cam Bốt, Kurds, hay Tutsi thì có mắc mớ gì tới Hoa Kỳ hay là những cường quốc khác? Điềm nhiên tọa thị, không hành động xem ra chẳng hao tốn gì. Toan tính, hoặc hành động nhằm ngăn chặn diệt chủng chắc là phải sử dụng tới sức mạnh, hoặc phải điều động tới những tài nguyên khác, đó là điều mà những nhà lãnh đạo khôn ngoan, cẩn trọng không muốn, cái sẩy nẩy cái ung, châm ngôn đã dậy.

Luôn luôn là vậy, thật dễ dàng nhìn đi hướng khác, vờ đi những đòi hỏi mang tính đạo đức. Mỹ Quốc chỉ sử dụng tới sức mạnh chống lại người Serbs tại Kosovo, khi mà những nhà lãnh đạo của nước này sợ rằng cái sẩy (cuộc chiến tranh mang tính địa phương) nảy cái ung: nó sẽ lan rộng và tạo nên tình trạng mất ổn định trong vùng. Và ngay cả khi Mỹ Quốc và cùng với nó, khối NATO, đã can thiệp, là cũng chỉ ở trên cao độ 15 ngàn feet, không muốn xẩy ra chết chóc về sinh mạng trên mặt đất.

Trường hợp nhức nhối nhất mà Power đã chỉ ra, là ở Rwanda, nơi mà 800 ngàn người Tutsi và Hutu hiền hòa đã bị sát hại chỉ trong vòng 100 ngày vào năm 1994, và chính quyền Clinton đã "phản đối" (opposed) những cố gắng của LHQ nhằm ngăn chặn diệt chủng. Romero Dallaire, người Canada, vị tư lệnh lực lượng gìn giữ hòa bình của LHQ tại Rwanda, nhận ra rằng, những phần tử cực đoan người Hutu đã và đang bắt đầu một chiến dịch nhằm thịt sạch không còn một mống dân thiểu số Tutsi, và đã kêu gào, xin được tiếp vận cho cái lực lượng mỏng manh ở dưới quyền ông. Tại Washington, ngài Tổng thống, ngài Bộ trưởng Ngoại Giao, luôn cả ngài Cố Vấn An Ninh Quốc Gia, chẳng ngài nào muốn xoáy sâu - "phô cứt", focus - vào vấn đề này. Các ngài đồng thanh gạt bỏ lời tố cáo, rằng đang xẩy ra diệt chủng ở đúng chỗ đó đó, sợ rằng nước Cờ Hoa bị rằng buộc, và sẽ phải hành động phù hợp, khi coi diệt chủng là một tội ác. Hoa Kỳ bèn chống lại chuyện gửi quân tăng viện cho vị tư lệnh người Cà-na-điên, và yêu cầu phải rút quân ra khỏi Rwanda. Những nhà lãnh đạo Hoa Kỳ biết rất rõ, chuyện gì đang xẩy ra, nhưng không muốn chấp nhận trách nhiệm của một cường quốc. Nếu không đúng như vậy, thì ít ra là như vầy: họ không muốn rủi ro tới tính mạng của binh sĩ Hoa Kỳ tại một xứ sở mà may ra chỉ có một dúm người dân của họ biết tới, trên tấm bản đồ thế giới – lại hội chứng hậu-Việt Nam ở đây. Làm sao lại có quyền lợi quan trọng mang tính quốc gia của Mỹ ở đó?

Sự phê phán của Power đối với chính sách của Mỹ thật là thê thảm, và đầy những bằng chứng rành rành không thể chối cãi. Thật chẳng có gì để mà nghi ngờ: đối với cái gọi là nhân quyền, Mỹ Quốc tỏ ra rất thận trọng, và thật lọc lõi, khi phải dính vào. Và họ cũng chẳng muốn vượt quá biên giới của những gì liên quan tới chủ quyền quốc gia của những nước khác. Những nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đã được dẫn dắt (governed) bởi một quan niệm thật là chật hẹp, về cái gọi là quyền lợi quốc gia.

Tác giả nhấn mạnh, Mỹ thật có rất nhiều lý do đáng nể để mà hành động nhằm ngăn chặn diệt chủng. Lý do thứ nhất liên quan tới đạo đức: Mỹ Quốc có bổn phận nghĩa vụ (duty) hành động nhằm chấm dứt chuyện sát nhân tập thể, và một khi là một cường quốc, trên vị thế đó, với họ, hiểm nguy sẽ ở mức tối thiểu. Thứ nhì: ngay cả cái ý nghĩ, chỉ lo cho mình, cũng có thể được sử dụng, theo nghĩa: rằng những quốc gia làm thịt nhân dân của nó, có thể sẽ xuất cảng cái ác tới những nhân dân của những nước khác, và con người, một khi đã trở thành nạn nhân của cái ác – kể luôn cả khủng bố - sẽ tìm cách trả thù, rửa hận. Bà nói đúng, hiển nhiên là vậy, đặc biệt là khi bà cho rằng, diệt chủng là một thách đố, nó đụng tới cốt lõi của những giá trị đáng quí nhất của nước Mỹ. Nhưng, trong số chúng ta, ai là người tỏ ra lạc quan, rằng Washington sẽ "can thiệp", kỳ tới?

Jennifer Tran


2- Cụ Nguyễn Hiến Lê có nhận định rằng muốn tìm hiểu và đánh giá về Khổng Tử, chỉ duy nhất Luận ngữ là đáng tin. Tôi chưa được đọc/biết ai phân tích sâu hơn về văn bản học của cuốn này. Bản thân 1 "viên ngọc" như vậy, với văn phong tương đối đồng nhất, 1 tư tưởng ghi chép-cho dù chỉ là ghi chép-rất nhất quán và sâu sắc, liệu có thể gợi lên nhiều điều về những người đã thực sự ghi chép nó? Rất có thể không phải là các học trò trực tiếp của Khổng Tử viết (cho dù qua lối ghi chép thì NHL cũng đã phân tích đâu là cách nói của học trò, đâu là của các đời sau...) vì một cách trực tiếp và có truyền thừa rõ ràng như thế mà không để lại vết tích gì khác thì cũng hơi khó hiểu. Tôi nhận thấy rất rõ ràng có sự khác biệt trong tư tưởng biên tập giữa những ngôn hành của Khổng Tử so với của các học trò khác của ông. Tức là có thể nghĩ đến chuyện có nhiều phần do nhiều người ghép vào. Nhưng cái tôi lưu ý nhất chính là sự nhất quán trong văn phong và tư tưởng quan điểm của đại đa số những ghi chép về Khổng tử. Tức là có vẻ nó có 1 tác giả chính hơn là những ghi chép tản mạn được tập hợp.


Tất nhiên có thể bắt đầu với những giả thuyết kiểu:

- truyền thống văn phong của thời kỳ đó là khá phổ biến nên văn phong không phải là vấn đề
- vì là "thuật nhi bất tác" và có tính chất trường phái nên không chú trọng đến xuất xứ, 1 kiểu tổng hợp qua thời gian
- vì thói quen "thác cổ" nên người đời sau gán cho đời trước...


Tuy vậy xét cho cùng thì như bản Luận ngữ chúng ta thấy ngày nay cũng được biên tập khá "lộn xộn" và đặt tên đơn giản theo những chữ đầu của mỗi phần. Tức là nó vẫn giống với 1 tập hợp ghi chép được kết tập hơn là 1 trước tác 1 lần của 1 người.


Chính từ sự "lộn xộn" này mà tôi có 1 suy nghĩ: xuất phát từ tinh thần "Tử tuyệt tứ: vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã" thì luôn luôn mội hội thoại phải được xem xét tất cả các yếu tố hoàn cảnh "Nói với ai? Ở đâu? Khi nào? Như thế nào?" (và do vậy diễn trình suy tư cần mở ra đến vô tận, theo cách nói của Chu Hy là "cần nhấm nháp văn bản" chứ không phải đọc nó) thì việc đọc Luận ngữ theo từng đối tượng học trò là rất tốt để nắm bắt tư tưởng tinh thần Khổng giáo. Ví dụ nếu lựa riêng những hội thoại giữa Khổng tử với Nhan Hồi-học trò ưu tú nhất của KT- và so sánh với người khác như Tử Cống hay Tử Hạ chẳng hạn sẽ thấy rõ ràng hơn sự khác biệt nặng nhẹ nông sâu trong quá trình truyền thừa tinh thần Khổng giáo. Từ sự khác biết này sẽ quay trở về với nhận xét ban đầu: các học trò của KT hoằng dương tinh thần Khổng Tử như thế nào? Ai là chủ lưu (như Tăng Tử, như Tử Tư...)? Nhưng nếu như Tử Tư để lại sách Trung Dung 1 cách rõ ràng về nguồn gốc thì tại sao Luận Ngữ lại nhập nhèm đến vậy? Cho dù về giá trị tư tưởng thì theo tôi Luận ngữ còn quan trọng hơn nhiều. (Nho giáo về sau như Tống Nho-để phân biệt với Khổng giáo- chủ yếu hoằng dương vào Đại Học, Trung Dung chứ không phải Luận ngữ).



3- Chuyện nọ xọ chuyện kia: để ý mới thấy dân ta rất thích dùng những tư tưởng kiểu "công án", "Đạo"...để nói chuyện-nhất là khi bế tắc trong tranh luận thông thường. OK, mình cũng không dám lạm bàn chỉ nêu ra những ý nghĩ thế này:


- Nói 1 tí ti về Đạo: như 1 hội thoại 1 bậc thầy đã trả lời câu hỏi "Đạo là gì?" rằng đó là "Làm điều thiện, dứt điều ác". Vấn đề là làm chứ không phải nói. Nên khi bạn chưa quả quyết là làm được rồi thì nói nhảm làm gì vậy? Cứ bình thường mà nói không được à? Có lẽ phần nhiều rơi vào những người ít chịu suy tư nghiêm ngặt theo logic thông thường trước đã :)


- Nói về công án: công án là của 1 vị Thầy ghi lại 1 hội thoại (còn gọi là "thoại đầu Thiền") giữa 2 người khác (1 trò 1 Thầy) với mục đích làm phương tiện cho người khác tham chiếu. Tức là làm sao tách ra được khỏi mấy điều "Ở đâu? Với Ai? Khi nào? Thế nào?". Thế mà dân tình cứ thích tách riêng 1 vài lời nói liền môi ra làm thành các cái gọi là "phạm trù triết học"-bản thân cái khái niệm này có gì rõ ràng hơn đâu?-và tán lên tán xuống biển rộng sông dài (*).

Ví như câu chuyện về lời nói cuối cùng của Gothe "Cho sáng lên" hay cái gì đại loại thế mà tán thiên tán địa thành 1 thông điệp này nọ thì còn ai dám chắc nó là của ổng nữa??? Trong chuyện về Vương Dương Minh của NHL có kể đến lúc lâm chung của ông, học trò hỏi có dặn lại gì không, ông đáp ta theo thánh hiền tuỳ bệnh cho thuốc chứ làm sao có thể tuỳ tiện xếp đặt thành khuôn mẫu gây hại cho đời sau được. Quả thực là 1 thái độ sáng suốt. Mà không hiểu sao các vị học trò hay thích ghi lời cuối thế nhỉ. "Ta có gì để giấu đâu?" Thầy Khổng cũng luôn bảo thế còn gì. Bảo sao người đời hay có cái tâm lí tranh cho được để nói lời cuối. Từ đấy chuyển sang chỗ ai nói to hơn, dài hơn, thô lỗ hơn là thắng chả còn là bao nhiêu nữa :))
....







(*) Mình rất ngờ là cái ý này chính lá xuất xứ của câu "thiên rông hà rài" trong dân gian nhá :D

Từ chỗ "trời rộng sông dài" sang đến thành "thiên rông hà rài" quả thật là thú vị quá đi hehe

Chủ Nhật, 14 tháng 10, 2007

Tags mới-việc đọc

Có lẽ Y360 không cho đặt quá nhiều bài viết trong 1 tag nên hậu quả là cái tag tớ cho là quan trọng nhất là "đọc" lại bị chìm mất tiêu. Tớ ghép nó vào tag mới này "việc đọc". Các bài viết trong tag "đọc" các bạn ấn vào link sau:

tag "đọc"

Đọc sách nhiều cũng tốt, nhưng mà đọc được cái gì mới là vấn đề. Mà nói rộng ra đọc cũng là cách nhìn, cách nghĩ mọi sự ở đời. Vậy nói đọc được cái gì đó hoàn toàn là rất khó khăn.

Một ngày đẹp trời




Hôm nay là 1 ngày đẹp trời so với quãng thời gian vừa rồi. Bầu trời như thế nào nhỉ? Cái bầu trời mà bạn thân thiết của tớ ngồi sau xe cứ lẩm nhẩm "trong xanh" mấy lị "trong sáng" mãi mà không tìm ra từ để tả í. Để tớ tả cho này: đó là một ngày nhiều mây, không, không phải mây, khắp thinh không giăng giăng một quầng xám nhạt. Nếu nhiều hơi nước hơn nữa sẽ gọi là mù sương. Gió heo may dè dặt chạm nhẹ vào da người. Người cứ xuôi đi theo dòng xe, thư thả và khoan khoái vì thinh không mật thiết đến không ngờ. Ngày rộng rãi quá, không biết đi về phía nào. Trong vô thức ta đi về phía mù sương. Ta tìm 1 gương nước soi bóng những ngày xưa cũ. Gương nước Tây Hồ.

...

Chiều về ghé hàng sách cũ đầu phố, mua được:

- 2 cuốn sách học ngoại ngữ
- Xác lập cơ sở cho đạo đức-FJ, bản xb năm 2001
- Những làng nghề truyền thống VN
- Quy hoạch du lịch
- Mông Phụ-một làng ở đồng bằng sông Hồng.

Cuốn cuối là 1 tài liệu rất hay để nghiên cứu về làng truyền thống VN (mà không bị sa vào mấy trò khái quát văn hoá học rất dấm dớ hiện nay) do Viện Đông Nam Á và Thế Giới Nam Đảo, LASEMA, Trung tâm QG Nghiên cứu KH Pháp-CNSR và Viện Dân Tộc Học, Trung tâm KHXHNVQG VN hợp tác trong chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học về các biến đổi làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ, thực hiện vào khoảng những năm 90-91.

Cuốn sách gồm 4 phần. Phần dẫn nhập "Một thoáng lịch sử" giới thiệu khái quát, đáng chú ý có bài viết "Từ tổng đến xã..." của Nguyễn Tùng, giới thiệu cấu trúc làng xã truyền thống xưa, sự biến đổi sau 1945 và tác động của nó gây ra sự đảo lộn về địa vực và hành chính trong khoảng 4 thập niên "tất cả các quyền lực-chính trị, kinh tế cho đến văn hoá, quân sự - đều nằm ở mức độ xã, thường có diện tích nhỏ hơn 1 tổng nhưng có dân số tương đương; các làng nằm bên trong xã (mới) mất đi hầu hết các cơ cấu và sinh hoạt truyền thống.". Nhưng Mông Phụ lại phát triển ngược lại.

Phần thứ 2: Xã hội, gồm tập hợp bài viết về tổ chức xã hội và chính trị của làng xã, gia đình và hệ thống thân tộc.

Phần 3 nghiên cứu về Không Gian. Và phần cuối về Tài nguyên và Khai thác tài nguyên.

Mông Phụ như 1 ngôi làng Việt cổ vùng bán sơn địa có vị trí so với châu thổ sông Hồng thì có thể ví như nằm ở đỉnh của 1 tam giác. Vùng này nổi tiếng về 2 vị vua là Phùng Hưng và Ngô Quyền, nhưng được nhắc đến nhiều nữa 1 phần vì sự tích đi sứ của Giang Văn Minh (1573-1638), gắn với câu đối "Đằng giang tự cổ huyết do hồng-Bạch Đằng từ trước huyết còn tươi" đối lại vế đối của vua Minh "Đồng trụ chí kim đài dĩ lục-đồng trụ đến nay rêu đã phủ". Trong sách dẫn ra 1 luận điểm đáng chú ý cho là đây là sản phẩm kiểu giai thoại hình thành cùng kiểu với các cuộc tranh luận ăn nói với TQ (Mạc Đĩnh Chi, Trạng Lợn, Trạng Quỳnh...) có lẽ hình thành vào nửa đầu thế kỷ XIX. Luận chứng đưa ra là ĐVSKTT tuy có ghi việc đi sứ của GVM nhưng không nói đến cái chết của ông. Đại Việt Lịch triều Đăng Khoa Lục-ĐVLTĐKL, được soạn xong khoảng năm 1779, có nhắc đến cái chết nhưng lại không nói rõ nguyên do. Sự việc chỉ được ghi lại chính thức lần đầu trong Đại Nam nhất thống chí.

Chưa đọc cuốn Thần và Người đất Việt của TĐCT nên ko biết có liên quan gì không nhưng mình rất nghi cái hiện tượng phổ biến các Thành Hoàng là bộ tướng của Hai Bà cũng như 1 loạt các thần tích sự tích khác. Trước đây trong 1 bài viết của GS Hà Văn Tấn có cho thấy Văn bản học vẫn là 1 ngành còn mới ở VN hiện nay. Ngay như ĐVSKTT thì cũng sao đi sao lại, chỉnh lý qua tay bao nhiêu người. Cứ cho là dẫn đến tận thời Trần thì những sự việc chép về thời Lý đổ lên cũng rất đáng ngờ, ít nhất không thể tin hoàn toàn được. Hẳn là những việc thời Đinh-Lê khúc xạ qua lăng kính quyền lợi của Lý triều đã hoàn toàn không còn chính xác hay chính bản thân quyền lợi của họ Trần cũng sẽ ảnh hưởng đến việc ghi nhận hình ảnh họ Lý. Bản thân sử gia có thể nghiêm túc nhưng quan trọng là sử gia sử dụng tư liệu loại gì, huống hồ từ thời Lý Thái Tổ đến khi có cuốn sử được biết đến đầu tiên đã khoảng 200 năm rồi. Thời ngày nay, những chuyện 200 năm trước còn mơ hồ nữa là 800 năm trước đây!

Thứ Hai, 8 tháng 10, 2007

Tranh luận-Đối thoại-Phê bình

Muốn thực sự hiểu tư tưởng 1 con người tôi cho là phải dò dẫm trải nghiệm với người từ bước tấp tểnh ban sơ để nhiên hậu có thể cùng chia sẻ những niềm vui nỗi buồn trong lời nói cử chỉ bình phàm giản dị. Đọc tập sách mỏng được viết lúc đầu đời của BG, tôi thấy ông trở lên gần gũi và dễ đồng cảm hơn hình ảnh Người Điên kỳ vĩ nhiều.
---------------

Một vài nhận xét về Truyện Thuý Kiều-Bùi Giáng


Bản ngã cô Kiều.

Từ ngày các tập “Luận đề” được ra đời thì giới học sinh và giáo sư thật không hết lời cảm tạ. Những tập mỏng mỏng, tươi tắn, đậm đà, không từng phụ lòng mong đợi của một ai. Chúng tôi rất lấy làm sung sướng.

Riêng mấy luận đề của ông Nguyễn Sỹ Tế đã làm chúng tôi cảm động sâu xa.

Và chính vì lẽ đó, mà sơ ý một tí, ông càng để lại cho chúng tôi một chút hận khôn nguôi.

Chúng tôi mấy lần tự hỏi :”Là đàn em, khi thấy cái lỗi của người chị, có nên thưa lại cho chị hay ?”. Nhưng dần dà rồi em cũng quên khuấy đi mất và ngày qua tháng lại, riêng chỉ còn nhận thấy độc một vẻ diễm kiều của chị thôi.

Kịp đến khi người chị, chợt một buổi mai êm trời, lại một lần tô phấn lại, bước ra… tập”Luận đề về Nguyễn Du”, ông Tế vừa cho tái bản.

Xem lời giới thiệu ở trang đầu :”Tác giả có sửa chữa và thêm bớt nhiều” chúng tôi vồ vập ngay. Chúng tôi tin rằng điều chị làm phật ý chúng em ban đầu, ngày nay chị bằng lòng xí xóa. Và chúng tôi sung sướng : chị qủa rộng lượng trăm chiều. Vâng, chỉ vài lời điểm xuyết thêm vào lời lẽ xưa, và người chị đoan trang càng thêm lộng lẫy.

Nhưng nghẹn ngào, chúng tôi vẫn còn mang tí hận cũ. Riêng đề “Bản ngã cô Kiều” trong tập, không được ông sửa đổi lại. Kiều ra mắt khán giả lần thứ hai vẫn với cái cốt cách xưa : đam mê và nhu nhược, yếu hèn, không thật lòng, giả dối.

Sao ở mọi chốn khác ông Tế tỏ ra chu đáo là thế, mà riêng đây, ông nỡ cứ hẹp hòi.

Mười năm trước, ông Nguyễn Bách Khoa từng lớn tiếng “Hoàn cảnh xã hội chi phối con người”. Nhưng khi đem cái nguyên tắc ấy áp dụng trong việc phê phán nhân vật, bao lần ông đã không chịu xét cái cảnh ngộ nào đã trực tiếp chi phối tâm trạng con người nào. Ông lôi người ta ra giữa khoảng trống trơn, tuy xung quanh có núi sông bát ngát, và vũ trụ mịt mùng, nhưng đâu là nếp nhà tranh, lũy tre thưa, bờ giếng nước, tấm cửa sổ, chiếc chiếu, và áo quần ?

Rồi mặc tình ông tha hồ mổ xẻ, không một người thân thích nào được chứng kiến để nhỏ giọt lệ, mà kịp kêu lên một lời biện hộ minh oan.

Ông tàn nhẫn qúa. Mà chúng tôi tự lượng sức mình không đủ để bênh vực cho giai nhân. Chúng tôi đành quay mặt đi, không dám thấy, và chỉ xin phép yếu ớt khẽ kêu lên một tiếng xuýt xoa một đôi bận mà thôi - những bận nào mũi dao của ông tỏ ra tàn bạo qúa !

Kiều đam mê và nhu nhược, đành là thế. Nhưng đam mê theo một lối nào ? Và nhu nhược đến mức độ nào ? Đam mê có phải là trụy đọa ? Nhu nhược mà có đến nỗi đê hèn không ? Phút nào nàng nhu nhược? Bận nào nàng qủa thực đam mê?

Ngoài những lẽ viện đúng tất nhiên, đây một ít lời của ông Tế khác :”Theo Sở Khanh vì đam mê.Vì đam mê nên thiết tha với Thúc Sinh, Từ Hải. Vì nhu nhược nên e dè trước thái độ tha thiết của Kim lang. Xui Từ Hải ra hàng vì vừa lẩn thẩn. nhu nhược và đam mê”.

Ta thấy mấy hành động của Kiều kể trên - nhất là hành vi nghe theo Sở Khanh - nếu qủa thật thôi thúc bởi thói đam mê đa tình, liều lĩnh thì thật là nàng đã đê hèn, khốn đốn vô ngần. Chúng ta kinh ngạc. Con người vừa bán mình vì hiếu? Con người vừa toan kết liễu đời mình để thoát vòng ô nhục, con người ấy, giờ này, đã vội vì thói lẳng lơ đa tình, mà chay theo níu áo Sở Khanh hay sao ?

Nếu thật thế, thì không khí chốn bình khang qủa thật là biến đổi con người ! Và ảnh hưởng hoàn cảnhtrên cá nhân thật là tuyệt đối hòan toàn, lẹ làng, chớp nhoáng. Chỉ một lần bước qua ngưỡng cửa, chưa hề lăn lóc, mà nông nỗi đã thế sao ?

Có thể được không ? Nguyên cớ nào đã thực sự xui nên ? Hòan cảnh nào đã thực sự thôi thúc, giục giã ?

Đáp rằng : chính vì muốn thoát khỏi chỗ đê hèn, mà nàng đã có những hành động “mê muội” như trên. Nàng theo Sở Khanh không phải vì phục kẻ họa thơ như ý ông Tế. Chỉ vì một nỗi, trong bước đường cùng, túng thế, sẩy chân, vừa suýt rơi vào vũng ô trọc, vừa toan kết liễu đời mình. Nghĩ đến ngày mai mà rùng rợn, nhìn bốn bề Ngưng Bích mà hãi hùng, lúc sắp chết đuối, lẽ nào ai lại không hiểu hộ cho ? Ta sẵn sàng níu tấm ván mục kia mà.

Cái bàn tay đưa ra lúc ấy là bàn tay hiệp sĩ, anh hùng, hay vũ phu, tàn bạo, hay sát nhân, ta không cần biết. Chỉ biết lúc này không còn mối đe dọa nào ghê tởm bằng sừng sững bóng lầu xanh. Nếu thế mà cho là nhục, thì chịu làm đĩ hẳn phải là vinh quang?

Ngày sau khi đã thực sự chịu ê chề, sau bao lần “giật mình tỉnh rượu tàn canh”, Kiều sẽ gặp Thúc Sinh. Nàng có yêu Thúc Sinh thiết tha cả phách lẫn hồn, “yêu đến vỡ bờ” như ông Tế nói? Không. Nàng không yêu. Mà nói yêu cũng được. Nhưng yêu không phải vì thói đa tình, mà chỉ vì, với chàng, nàng đã hàm ân nghĩa nặng mà thôi.

Cái bàn tay “tế độ” của Sở Khanh trước đã xô nàng xuống vực thẳm, thì bây giờ, qủa đây, là bàn tay cứu vớt. Hòan lương một kiếp, nàng mang nợ trót đời. Nếu lúc khuyên chàng về xin phép vợ cả, nàng có thốt bao lời tha thiết đến lâm ly, nếu lúc chia tay nàng có ngừng chén, nếu lúc hợp tan nàng có nghẹn lời, thì vừng trăng ai xẻ làm đôi đêm hôm ấy xin hãy chứng giám cho lòng người : thiết tha mong mỏi sống ở một nơi trong sạch, phận dầu lẻ mọn, mà không vẩn đục đến linh hồn.

Nếu đam mê, thì đời nào cô đĩ chịu hoàn lương để làm thân lẻ mọn, chịu cái số kiếp chồng chung, mà ai kia, nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã không tiếc lời bỡn cợt vì cảm thông :”chém cha cái kiếp lấy chồng chung…”

“Sắn bìm chút phận con con” mà vẫn mòn mỏi đợi chờ. Vì sao? Không. Nàng chỉ tỏ ra còn giữ nguyên vẹn, còn ý thức hoàn toàn về phẩm cách con người.

Rồi về sau, bị đưa đến cửa công, con người ấy cũng sẽ không nao núng trước hiện thân của pháp luật “ mặt sắt đen sì”

Đam mê chỉ xui người ta mờ mắt, mà quên phẩm cách đi. Ở đây, nàng tỏ ra nhận thức cảnh ngộ sáng suốt biết bao.

Rồi vì đam mê yêu Từ Hải ? Lại cũng như trường hợp Thúc Sinh. Ta trách nàng sao phải?

Còn nhu nhược ? Qủa có nhiều. Nhưng nhu nhược ở những điểm nào ? Ta có nên chủ quan và tuyệt đối qúa không ? Khuyên Từ Hải ra hàng, có gì mà cho là lẩn thẩn hay nhu nhược?

Nương thân vào Từ, nàng tin cậy, vững dạ không lúc nào bằng. Đành khuyên Từ ra hàng, rất có thể vì một tí nhu nhược trước cái ảo ảnh “nở nang mày mặt, rỡ ràng mẹ cha”.Mà trách nàng làm sao ! Đời nàng đã có một lần nào là nở nang mày mặt, là rỡ ràng mẹ cha đâu. Ta không thể buộc người đàn bà phải mang tâm hồn một triết nhân khắc kỷ Hy Lạp ngày xưa.

Tầm thường hơn, ta hãy nhìn nhận rằng có điều chắc là nàng đã nghe theo tiếng gọi của lòng nhân đạo một phần, nàng không đàng lòng được, nàng không thể ngồi đứng an vui được, khi nghĩ rằng mình xây riêng hạnh phúc mình trên đống xương vô định, Ta cảm thương cái chết của Từ, và sinh lòng giận nàng thật. Nhưng cũng nên nghĩ lại rằng cái hành tung khuấy nước chọc trời của người áo vải Việt Đông, dù sao cũng chẳng phải đã tuân theo một lý tưởng vị nước vị dân nào. Đúng như lời ông Tế nói trong một luận đề khác:”Việc làm của Từ Hải không phải việc mà người quân tử chịu làm”

Thì ta cũng không nên nghiêm khắc. Dù có lỗi đi nữa, nàng cũng đã chuộc tội mình bằng một giá đích đáng; là nạn nhân đau đớn , nàng đã tự kết liễu đời mình ở sông nước Tiền Đường.

Nếu có nói rằng lẩn thẩn, nhu nhược, tầm thường, là chỉ ở hành vi báo oán là một, ở thái độ nàng khi thị yến dưới màn Hồ Tôn Hiến là hai. Đây mới là chỗ ta thấy nàng tầm thường qúa đỗi. Đúng như lời ông Đào Duy Anh đã nói : Gíam Sinh, Sở Khanh, nào có tội lỗi gì, nhất là Sở Khanh và Ưng, Khuyển, chẳng qua chủ bảo sao hay vậy, nào có gì là gỡ gạc được chút chi, mà phải chịu sự phỉ báng của người đời.

Chẳng qua họ cũng như Kiều, nạn nhân của một trật tự xã hội. Nhưng, làm sao đối với Kiều, một tâm hồn con gái thời xưa, mà gái phương đông, hẳn phải giận hờn ai ghê lắm.

Còn thái độ nàng dưới màn Hồ Tôn Hiến, tưởng chỉ nhắc lại lời Đào tiên sinh là đủ. Tôi chỉ dám thưa thêm rằng : không một chỗ nào trong toàn tập, Nguyễn Du có thể nói đã để tài nghệ mình vượt qúa đoạn này. Không một nơi nào trong toàn tập, ta thấm thía hết cái tiếng “tân thanh của đoạn trường” bằng ở đây.

Nhiều nhà phê bình muốn rằng ở đây Kiều phải mắng vào mặt Hồ Tôn Hiến. Ta giận nên nói thế được rồi. Nhưng người trong cuộc đã trải qua bao nhiêu nỗi cay đắng ở đời, trước nỗi chua xót cuối cùng, chỉ còn mím miệng tê tái cười mà thôi.

Nàng chửi Hồ Tôn Hiến, thì đã dễ rồi. Nàng có sợ ai đâu. Cái chết còn không sợ nữa là. Nhưng cái khổ đã đến độ nào mà con người không còn lên cái tiếng chửi mắng thông thường ấy của chúng ta nữa. Ta giận, ta đập bàn, ta đỏ mặt, ta lên tíâng to, thì cái ấy đã thường.

Nhưng đây, cái cung đàn bạc mệnh phản chiếu một đời người có khác. Vâng, ông bảo tôi thị yến dưới màn. Ông bảo tôi vặn cung đàn bạc mệnh cho ông nghe, tôi xin dìu dặt vặn cho ông nghe. Ông bảo tôi lấy ông, tôi xin lấy. Ông lại gán tôi cho Thổ quan, tôi bằng lòng. Ông bảo tôi đừng tự tử, tôi xin lấy. Vì, than ôi, người đã hiểu giùm chưa? Từ nay, đi đâu, ở đâu, đứng ngồi đâu, mang một hình người hay bóng quỷ, ở địa ngục hay trần gian lòng tôi đã chết hẳn rồi. Tôi có nhảy xuống Tiền Đường là chỉ vì sợ trách, sao lại sai hẹn mà thôi. Kể ra thì không cần phải nhảy.

Còn nói đến cái điểm “ không thật lòng”của nàng, thì hà tất ta phải dài lời nói đến. Sau tấn thảm kịch không lời của sông Tiền Đường, trùng phùng còn có dịp, sao nàng lại thốt lời từ chối cha mẹ, không muốn về lại gia đình? Có qủa thật là nàng không thật lòng?

Không. Nàng chỉ tỏ ra nặng lòng trung nghĩa với Gíac Duyên.

Qua cuộc đời bảy nổi ba chìm, qua bao nhiêu sóng va gió đập, cái bến nào đem lại chút bình thản cho tâm tư, là chỉ cùng Gíac Duyên nàng tìm thấy “Lâm chuy buổi trước Tiền Đường buổi sau”

Vui biết bao lúc nhìn lại cha mẹ, hai em, người yêu, sau mười lăm năm xa cách. Bao nhiêu là nước mắt của kẻ ở người đi, tự buổi “gió giục mây vần”
Từ con lưu lạc quê người
Bèo trôi sóng vỗ chốc mười lăm năm.
Tình rằng sông nước cát lầm,
Kiếp này ai lại còn cầm gặp đây.
“Kiếp này ai lại còn cầm !” ấy thế mà không vì mảng vui sum họp với gia đình, mà chịu coi nhẹ nghĩa trùng sinh.
Lòng nào nỡ dứt nghĩa người ra đi
Lời nói ấy của Kiều trong phút ấy, cái chỗ thắc mắc của nàng trong buổi trùng lai, thật là cảm động.

Thoát chốn ô trọc, thoát nanh vuốt cuộc đời, qua Tiền Đường mà còn sống lại được đến ngày hôm nay, còn nhìn được cha mẹ ở kiếp này, vì ai mà còn dịp “Trùng sinh ơn nặng bể trời..”

Một lời nói chứa chất biết bao là đau khổ đã chịu, là chung thủy của trọn một kiếp người.

Kiều gieo mình dưới gối mẹ, “khóc than mình kể sự mình đầu đuôi” và mọi người đã vội “quây nhau lạy trước Phật đài..Tái sinh trần tạ lòng người từ bi”.

Trước tấm lòng tri ân của đám người đau khổ ấy, chúng ta cảm động dường nào. Và thầm tạ Nguyễn Du chu đáo biết chừng nào?

Một lời nói, một chút ngần ngừ, nếu Nguyễn Du quên không để cho Kiều thốt, ta sẽ vì Nguyễn Du mà bực bội , vì Kiều mà bực tức biết bao nhiêu.

Rồi đến cái điểm “không thật lòng” của nàng khi từ chối duyên cầm sắt cùng Kim Trọng. “Từ chối duyên cầm sắt cùng Kim Trọng là không thật lòng, chỉ vì muốn giữ vẹn một chút trinh linh lạc”

Thành thật, ở đây, chúng tôi thấy ông Tế quá ư nghiêm khắc. Biết nói làm sao ! Chúng tôi chỉ xin nói rằng: Từ cái việc Thúy Vân lúc tàng tàng chén cúc đứng lên giãi bày, rồi đến Kim trọng tiếp lời, rồi ông bà Viên ngoại phụ họa theo, đừng nói chi đêm động phòng não nuột, mọi người tuy vì Kiều mà nài ép, nhưng sao ta vẫn thấy có gì như tàn nhẫn qúa, buộc con người đã chịu bao tủi nhục phải một lần nữa tủi cực chua xót nhắc lại đời mình :
Thiếp từ ngộ biến đến giờ…
Kiều thật lòng hay không thật lòng? Hà tất phải nói.

Tâm tư của con người sau mười lăm năm chìm nổi có còn là tâm tư rào rạt yêu thương của tuổi mười sáu nữa hay không? Chết ở sông Tiền Đường rồi sống lại, nhìn lại trần gian thì màu sắc đời người có còn là màu xanh tươi ngát của tuổi xuân không ? Nàng từ chối vì lẽ gì ? Vì mình, vì người, vì tình thương nhau cũ, xin đừng nỡ “vầy cái hoa tàn làm chi”
Người yêu ta xấu với người
Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau…

Còn đâu một nỗi buồn não nuột hơn không ?

Qua bao bước đoạn trường, bao lần nàng từng mong còn ngày tái hợp.
Nhưng ngày tái hợp đến qúa trễ tràng.
Mười lăm năm mới bây giờ là đây


Con người bỗng phát hỏang khi nhìn lại tấm thân mình. Tái hợp trong điều kiện như sao mà con người phải thốt :
Người yêu ta xấu với người,
Còn tình đâu nữa, là thù đấy thôi…

Trên đây tôi chỉ gắng nêu lên những điểm nào đã làm cho độc giả vì mến yêu ông Tế mà phải giận ông nhất. Còn những điểm khác về bản ngã Kiều cần phải bàn cãi thư thả hơn, chúng tôi đâu dám tự tiện. Xin nhường lại các bậc đủ thẩm quyền nêu lại.

Tỉ như : Kiều gắn bó với Kim Trọng, ông cho là liều lĩnh, khuyên can chàng lúc sỗ sàng, ông cho là e dè. “ Hai bản năng trái nghịch trong một bản ngã mềm yếu đàn bà đã chi phối đời Kiều làm cho nàng khi tỉnh, khi say, muốn liều lĩnh sống theo xu hướng lòng, lại e dè sợ sệt đủ đường, yếu nhược còn cứ cố giãy dụa ra khỏi hòan cảnh trói buộc mà thành ra gặp hết nạn nọ đến tật kia”.

Tôi đã định kết thúc từ nãy. Nhưng sao đến đây tôi lại thẩn thẩn thấy chưa đành. Chắc rằng tôi sẽ còn xin phép nấn ná ở lại với Kiều một lần nữa. Xin độc giả lượng tình cho vậy.

Ở đây, tôi chỉ thấy trong thái độ Kiều một sự cố gắng vùng vẫy hòa giải đáng thương của con người phải sống trong khuôn khổ ngiêm ngặt của Khổng giáo, và chịu sự đàn áp của xã hội hẹp hòi… và nói cho đúng ra, thì cả cái xã hội ấy cũng cùng chịu chung một cảnh ngộ éo le chung cho cả bọn mà thôi. Nào há chỉ riêng Kiều e dè, hay nhu nhược, hay liều lĩnh, lẩn thẩn hay đam mê, hay ấy chính đáng thương vô hạn! Còn bao nhiêu kẻ nữa, ở mọi nơi, mọi chốn suốt xưa nay. Là tiểu nhân, anh hùng, hay triết nhân khắc kỉ, cũng không thoát khỏi những hệ lụy chung cho kiếp người.

Lẽ ra, đã cùng một hội một thuyền, thì ta cũng nên rộng rãi một tí với Kiều, một nhân vật sống của một nghệ sĩ siêu việt trong thiên tài. Sao ta không chịu rộng rãi?

Tình cảm của con người, yêu thương của con người – tôi nói tình yêu chân thành tha thiết nhất - vẫn không được các đạo giáo xưa nay khuyến khích bày giãi một lần nào. Nói thế ta không phũ phàng chê trách nền đạo giáo nào cả. Mọi nền đạo giáo đều có lí do tồn tại, và không nền đạo đức nào có thể chiều theo mọi sắc thái riêng của tâm hồn mọi người.

Tôi chỉ muốn nói rằng, khi ta căn cứ trên một nguyên tắc nào để phê phán một kẻ nào, ta nên thận trọng, đừng để cho nguyên tắc trở thành máy móc, và một nền đạo đức “sống”, lẽ ra phải vừa kìm hãm người vừa nâng đỡ người, đừng trở thành công cụ đày đọa người, tra tấn người một cách vô ích làm chi.

Ta nên bình tĩnh nhìn nhận rằng sống giữa xã hội mà con người còn mang nặng một qủa tim người thì thế tất không làm sao tránh khỏi ray rứt, vì bao bận trong lương tâm mình đã diễn ra tấn tuồng tranh chấp, bao lần xô xát, va chạm, và vấp váp, mấy lần mâu thuẫn, một chút điều hoà…

Cái chút điều hoà mong manh mà nặng trĩu ý nghĩa ấy, nhân vật của Đoạn trường tân thanh đã thực hiện như thế nào, qua tâm hồn của thi sĩ Tố Như?

Nếu tâm sự của Kiều không được thấu thì ta e rằng đồng thời giá trị của Đoạn trường tân thanh cũng do đó mà tổn thương rất nhiều. Gía trị văn chương của nó khi ấy sẽ không thành vấn đề. Vì là văn chương hư ngụy. Và cái gía trị về tư tưởng, và cái gía trị nhân bản của nó sẽ qủa là “kém” như lồi ông Tế nói trong một luận đề khác.

Chúng ta tự hỏi : “Một áng văn chương phản ánh một đời sống nào, giữa xã hội nào, và lạ lùng thay, cái sức sống của nó bắt nguồn ở đâu mà nó chi phối và ngập tràn sâu xa vào đời sống tình cảm của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam trong một thế kỉ rưỡi, đã đưa hẳn đời sống tình cảm của dân tộc lên một mức độ chưa từng có tự cổ lai, một áng văn chương như thế thì giá trị nhân bản của nó như thế nào ?”. Đúng như lời ông Tế nói : “giá trị tư tưởng của nó không đều”. Nhưng không vì thế mà giá trị nhân bản của nó kém. Nếu trước sau giá trị tư tưởng của nó phải đều như một hệ thống triết học chặt chẽ theo lối ta nghĩ, thì có lẽ nó đã không là văn chương. Nó sẽ không mang đề mục “Đoạn trường tân thanh”. Nhà khoa học, bác sĩ y khoa sẽ cho nó một cái tên khác.

Nhưng chính cái chỗ mâu thuẫn, cái chỗ tầm thường trong quan niệm, trong tư tuởng, ấy là giá trị bất diệt trong tác phẩm Tố Như. Người đã cố tình gảy sai cung lỗi nhịp bản đàn để tách rời rạng rỡ bản nhạc buồn thương của con người ra biệt khỏi bản hòa âm muôn thuở giạt dáo của vũ trụ.

Cái ý nghĩa nhân bản của nó là ở đó. Nó phản ánh một cách nhiệm màu đời sống của con người giữa xã hội, một xã hội như sao mà quyền sống của con người luôn bị chà đạp, và người luôn luôn phải điều hoà bằng mọi cách muôn mặt của đời tình cảm mình; âm thầm, lặng lẽ, một mình mình biết, một mình mình hay.

Cái chỗ siêu việt của Nghuyễn Du là ở đó. Các triết nhân, thánh hiền, các nhà chính trị, sỡ dĩ họ cảm động ta và lôi cuốn ta, tuy thường họ chỉ nói những điều ta từng đã biết, chỉ vì họ đã vừa đau khổ vừa nói. Và đau khổ một cách tầm thường mà thôi.

Ai đã khóc một cách giản dị bằng thánh Gandhi, lúc ở Anh về nhìn lại Ấn Độ? Lúc tự ý đày mình ở lại Phi châu? Ai đã khởi đầu một phong trào dân tộc vĩ đại hơn trong kịch sử loài người? Ấy đấy. Cũng chính kẻ ấy, xưa kia, đã mờ mắt cho lệ chan hòa, viết thư khóc bạn canh khuya.

Nhà khoa học đóng chặt cửa phòng thí nghiệm, cố tách biệt mình với cuộc sống, có vì thế mà ta dám nói rằng ta yêu đời hơn họ hay không? Mà yêu theo nghĩa thông thường thôi đấy.

Con người thông minh ra và cao thượng ra vì có một trái tim biết thổn thức một cách tầm thường, đôi bận ngỡ ngàng, mấy lần vụng dại. Một giọt nước mắt khóc mẹ, khóc em, khóc bạn bè, láng giềng quen thuộc, một niềm thương xót còn sót trong nguôi lãng, một chút yêu vì còn sót lại trong khinh khi, chính chúng giúp ta hiểu nỗi lầm than của xã hội hơn mấy trăm lời nói hùng biện của triết nhân, đã bị ta bóp chết khô trong hệ thống.

Tuy bao lần qủa tim uyển chuyển đã gây nên bao nhục nhã cho người, nhưng cũng chính trong cái nhục, con người biết nhục đã tìm thấy ý nghĩa của cái vinh.Và bóp nát nó đi, cái chết của nó sẽ gây nhiều hậu qủa thảm hại không kường sao hết được. Con người sẽ phản lại cuộc sống ngay, khi chỉ còn bấu víu vào lý trí khô khan để sống.

Gía trị truyện Kiều – sao phải dùng tiếng giá trị ? – xây dựng trên mấy nét uyển chuyển tầm thường của một qủa tim, tệ hơn, một qủa tim đàn bà, có vì thế mà giá trị nhân bản của nó kém đi không? Không. Mãi mãi nó sẽ còn là tác phẩm độc nhất trong văn học Việt Nam cho thấy cái sức sống của con người. Không một tác phẩm nào làm ta khóc nhiều bằng, mà cũng không một tác phẩm nào giúp dân Việt hy vọng, tin tưởng nhiều bằng ở linh hồn nước Vịêt ngàn năm.

Con người nghệ sĩ kì quặc nơi Nguyễn Du, ta không làm sao nói được. Một bậc thánh hiền sẽ lặng lẽ cúi đầu trước câu chuyện tầm thường ấy của một người đàn bà tầm thường mà một thi nhân đã nghẹn ngào kể lể lại.Câu chuyện riêng của cô gái giang hồ bỗng đã mang nặng nỗi đau thương muôn đời của con người trước cuộc sống.

Kiều đã cảm động ta đến cùng vì lẽ ấy. Chúng ta khóc Kiều không phải chỉ vì thương cho thân thế một cô gái giang hồ thôi đâu. Cũng giống Chu Mạnh Trinh khóc Kiều, và mơ hão một giấc mơ tao phùng cùng người quốc sắc.

Không. Tác phẩm của Tố Như không phải chỉ gợi được chừng ấy nỗi niềm xót xa thương tiếc luẩn quẩn trong vòng cá nhân hẹp hòi. Xin đừng ai nỡ đem so sánh Kiều với bất kì một cuốn tỉêu thuyết nào khác của Âu Á, cổ kim. Gĩưa Kiều và “Tây sương kí” của Vương Thực Phủ, hay “Romeo và Juliette” của Shakespeare, hay “Verther” của Goethe, còn một khoảng cách biệt rất xa. Kiều mang một sức sống huyền diệu hơn nhìêu để làm tròn một sứ mệnh thiêng liêng hơn nhiều.

Người ta cho rằng vì giá trị tư tưởng của nó kém, ko đều nên nó không được liệt vào hàng những áng văn chương kiệt tác của thế giới. Người ta cho rằng triết lí truyện Kiều là một hỗn hợp ép uổng của ba ngành triết học: Phật, Khổng, Lão. Nhưng cũng chính chỗ ép uổng đó mà ngày nay cái tên Khổng Tử, Lão Trang, Thích Ca còn được hậu thế nhớ đến; Nguyễn Du đã làm sống lại họ trong tác phẩm độc đáo của mình. Thiên tài Nguyễn Du đã điều hòa ba ngành triết học Á đông một cách ép uổng, mà huyền diệu vô song. Lẽ Chân, lẽ Thiện, lẽ Mỹ, dường như một lần được tương phùng trong chỉ một tác phẩm mà thôi.

Nếu các nhà bác học uyên thâm có nhận thấy rằng trong cuộc gặp gỡ này, khuôn mặt Khổng Tử có méo mó đi, vì bị lão Trang siết hôn qúa mạnh, nếu Thích Ca lắc đầu ngậm ngùi cho số phận mình bị kết chặt vào số phận Khổng Tử, Lão Trang, ko tùy ý thỏa thuận một mảy may, thì cũng chính vì lẽ đó, mà nghìn năm cách biệt, khuôn mặt họ sẽ được hậu thế nhìn nhận ra, vì đã được “ tô điểm” lại, và điều hòa màu sắc hợp với lòng người hơn, dưới cây bút huyền diệu của nghệ sĩ bên bờ Lam giang đã chịu lăn lóc, ê chề trong cuộc sống.

Nếu nãy giờ độc giả nhận thấy rằng giọng tôi có sôi nổi qúa, đến có thể bóp méo ý ông Tế, thì xin hãy lượng tình cho. Và hiểu rằng không phải vì tôi hờn giận ông Tế. Ai đọc hết mấy tập luận đề của ông về Nguyễn Du không làm sao không kính mến ông. Và phải đồng thanh nhìn nhận rằng ông có nhiều quan điểm sáng suốt rất cảm động trong một lời văn thanh tao uyển chuyển lạ thường.

Sở dĩ tôi qúa sôi nổi chỉ vì lẽ mười mấy năm nay âm thầm tấm tức. Mười mấy năm ròng tôi khổ vì lời buộc tội đanh thép của ông Nguyễn Bách Khoa. Quyển sách của ông ra đời vừa lúc tôi 16 tuổi. Trong tâm hồn từ đó cứ hoang mang mãi, cứ như sôi dậy một niềm gì canh cánh, mà bứt rứt không tìm gỡ cho ra…Rồi sau này, trong những ngày ngửa nghiêng cùng sông núi, không hiểu có điều gì xui tôi mấy bận trở về tìm nơi nương náu trong tác phẩm Tố Như. Nhưng cứ mỗi lần giở ra là mấy lần tự thẹn, tự trách mình ủy mị, yếu hèn. Sao? Ta sống giữa một thời đại như thác ngàn đang đổ, lẽ nào ta lẩn thẩn ngậm ngùi cùng trăng bóng xế, hay hương hoa thu tàn ?

Nhưng ngày nay, tôi tin rằng tác phẩm của Nguyễn Du là kết tinh duy nhất của những yếu tố thuần túy chủng tộc trong một thiên tài, mà dẫu với giá đắt bao nhiêu cũng phải bảo toàn cho trọn vẹn. Kiều là kết qủa của một giờ gặp gỡ duy nhất trong lịch sử chúng ta giữa nền văn hóa dân tộc với sức tiến triển của thiên tài cá nhân. Cái tâm sự Tố Như đã hun đúc trong bao nhiêu ngày trên dải đất giữa Hồng Lĩnh Nam Giang, và nung nấu suốt mấy mùa trong lòng đau thương của thế kỉ. Người đã sống giữa một thời đại đẫm máu trong loạn ly, chứng kiến bao đổ nát, lìa tan, ở mọi mặt của cuộc sống, thì làm sao không ước mơ, không mộng tưởng một lần kí thác tâm sự mình, và tâm sự xã hội mình vào một tác phẩm kể một cuộc tình duyên ngang trái theo trình hạn, những mối ngậm ngùi thương tiếc.
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng…

Cái nỗi ngùi thương dằng dặc suốt tác phẩm. Ngay tự trang đầu đã lai láng đến vô biên. Thời gian đi, nước dưới cầu cứ chảy, trong đời tình cảm của mình con người cố níu lại chút gì giữ gìn cho vĩnh cửu giữa mọi di biến tang thương. Nằm trên nấm mồ vùi chôn bao kỉ niệm người sẽ khóc rất nhiều, hiểu nghĩa của đời hơn, thương cảm cho đời hơn, và tìm ra một niềm an ủi trong nỗi thiết tha nguyện cầu cho nhân thế. Nơi lòng mình, trong chỗ “thiện tâm” con người bắt gặp cái ý nghĩa “sống” giữa điêu tàn.

Ta đọc Kiều bao bận. Ta tự hỏi bao lần “ Vì sao câu chuyện tầm thường của đời sống cô gái giang hồ lại có một sức truyền cảm thương tâm mà an ủi lạ lùng?” Và ngày nay, ta hiểu Nguyễn Du đã trao hết đời sống mình cho nhân vật. Tâm sự Kiều là tâm sự Tố Như. Và tâm sự Tố Như là tâm sự con người thế kỉ XIX. Nó mang nỗi đau đớn chung của con người nghìn thuở, và gần nhất con người của thời đại chúng ta.

Tôi tin rằng có một sự hòa hợp sâu xa giữa tác phẩm ấy, và sự đau khổ ngày nay giữa bầu tâm sự Tố Như “ người đã từng ấp ủ nỗi khổ tâm trung quân ái quốc, người đã từng nung nấu mối sầu tư xã hội nhân gian” và sự chấn động ngày nay của dân tộc giữa muôn vạn tiếng kêu than trong bao nhiêu tấn bi kịch tiếp diễn rõ rệt hay âm thầm vì một mối tương xung nan giải.