Thứ Năm, 16 tháng 8, 2007
Thứ Năm, 26 tháng 7, 2007
Chính Trị-Tôn Giáo-Triết Lý
Giật tít to cho nó kêu :D
(Anh mượn cái ảnh của em Chiaki nhé :)
Không muốn viết gì nhưng lại muốn comment. Định comment xong lại thôi-nói đi nói lại vẫn là không cẩn thận. Không nói lại buồn tay. Nên lại viết 1 tý. Các bạn nể tình nhìn nhận những thiện chí mà đừng ném đá những thiển cận nha-chỉ khe khẽ thì được :) Nhất là đừng nghĩ mình phê phán hay tỏ vẻ gì-mình chỉ bận tâm phê phán chính mình thôi :((
Chính trị. Hôm trước nhắc đến Hoàng Sa, Trường Sa là do đọc báo thấy có tín hiệu lạ chứ cũng chưa biết vụ bắn súng giết người trên biển. Có điều lúc đó đã nghĩ đến cái sự vụ rất tồi tàn là ở bình diện quốc gia nhiều khi người ta cho phép xử sự với nhau man rợ, bất chấp mọi quy tắc đạo đức dù là tương đối nhất. Vấn đề ở đây là hễ người ta bắt đầu tìm cách lý luận về nó thì nó càng lúc càng tỏ ra có lý. Xác lập cơ sở cho đạo đức lại là một chủ đề còn dang dở. Bạn nào quan tâm nên xem tham khảo cuốn đó của Francois Jullien. Một ý rẽ ngang là: tựu trung có vẻ cái đáng giá nhất là cái kinh nghiệm trước tiên, tức thì của tình liên đới. Mình thiên về một nền triết lý gắn với những tiêu chuẩn kinh nghiệm như vậy nên gặp những điều này thường lập tức khởi lên cái cảm giác buồn nản về sự khó khăn khủng khiếp vốn đòi hỏi một nỗ lực kinh hồn, một ý chí sắt đá để tuân thủ theo cái tức thời này. Nó góp phần giải thích tại sao người ta chấp nhận được sự vô lý của thế giới hiện thực.
Đồng thời người ta cũng thường bị cuốn ngay vào những tư tưởng vốn bị ngầm mặc định về những ý niệm dân tộc, quốc gia...Nên chuyện sẽ chẳng có gì mới mẻ. Nếu cứ vậy mà ùa đi thì câu chuyện chính trị sẽ trở nên rất hấp dẫn với những bàn ngang đoán dọc về từ những chiến lược quyết sách đến thủ đoạn hành xử ngoại giao. Bàn chuyện chính trị thì tất nhiên là rất hấp dẫn rồi. Đàn ông càng khoái bàn những chuyện này. Tuy nhiên kết quả chung cho những dư luận như vậy trong đa số trường hợp là vô hại và kết thúc trong hỗn loạn. Nguyên nhân rất đơn giản: thiếu dữ kiện. Bài toán chính trị là bài toàn có rất nhiều tham số. Thiếu tham số thì sẽ chả có kết quả gì chính xác cả. Ai cũng đúng vì chẳng ai có kết quả cuối cùng. Tham số chính trị thì lại càng không bao giờ có 1 cá nhân nào dám cả quyết là có đủ - bạn có thông tin tình báo chiến lược được không khi mà ngay cả bản chất những thông tin này luôn là ước định. Chính trị trước hết là thuộc lĩnh vực của hoạt động thực tiễn.
Giải pháp trung hoà cho nhu cầu giải toả một cảm giác là những nhận định phù hợp với những gì mình biết mình có. Nhiều người cũng dừng lại ở việc điểm tin. Vậy cũng tiện. Mình cũng chả biết thế nào là phải.
Tuy nhiên, đối với 1 vấn đề xã hội, một khi vấn đề đã được xác định thì không có hành động gì cũng đã là một hành động. Mưu toan che giấu nó bằng những tranh biện giả triết học hay những vấn đề thực tế đều là sự đánh lừa mà thôi.
-------
Định comment bên blog bác Linh nhưng bạn Le cũng hỏi rồi nên thôi. Chuyện này là mình nhớ đến một chuyện buồn cười khác ở lớp học năm rồi. Ông thầy triết Mác-Lê hỏi về phân loại các trường phái triết học chủ yếu. Mình kề cà 1 lúc xong giả vờ tâm huyết "Thực ra theo em chỉ có đúng và sai mà thôi-nên chỉ nên phân loại thành chủ nghĩa duy vật biện chứng và các chủ nghĩa khác". Thầy gật gù ngay tắp lự mới vui chứ...
Tôn giáo là gì? Bản thân việc sa vào định nghĩa nó sẽ chắc chắn làm tiêu tan đi rất nhiều những giả vấn đề mà ta dự định đưa ra trước đó. Hình như có 1 điểm này mà ngay cả những người tự nhận là đứng trong kinh nghiệm tôn giáo cũng dè dặt khi nói về nó - đó là một dạng kinh nghiệm về cái gì đó toàn thể. Một khát vọng, bức bách, xao xuyến nào đó...Nếu chú mục vào đây thì mọi thứ lại bắt đầu tiêu tán đi đâu hết trọi luôn. Nhưng nó vẫn là thứ dễ dàng nhất để phân biệt người có tôn giáo thực sự với những tình cảm đại trà khác. Chỉ dẫn 1 truyện nhỏ trong Thiền tông - người ta phải 1 mình đối diện với CÁI ĐÓ, vừa đồng thời ở trong 1 dòng chảy vừa đồng thời phủ nhận tất cả những bấu víu đồng đảng. Vậy chớ việc gom họ vào 1 rọ có đem lại ích lợi gì cho họ không??? Huống hồ, một khái niệm hay định nghĩa luôn xuất phát từ một ngầm định có tính mục đích.
Cách chia có ích lợi nhất mà mình biết là cách chia tôn giáo thành 2 loại của Erich Fromm trong "Phân tâm học và tôn giáo". Một đàng, là sự chia cắt giữa con người và những phẩm tính cao quý; đàng kia, con người theo đuổi kỳ cùng cái tiềm tàng nhân tính của chính mình, có trong chính mình. Trong entry này mình có phớt qua (và dang dở) 1 chút về điều trên.
---------
Triết lý. Đọc cuốn "Triết học nhập môn" của Karl Jasper mình lượm được điều này: có lẽ cũng như các triết gia hiện sinh khác nhưng ông đã nói khá giản dị (cho 1 cuốn nhập môn) về cái gọi là "suy tư từ khởi nguồn/nguồn suối". Triết lý không phải là 1 thứ học công truyền, càng không có cái gọi là thần đồng triết học-cho dù quả nhiên người ta phải chịu 1 tư lự có thiên hướng. Tách rời cái nguồn suối đó thì người ta chỉ còn là chơi chữ, lặn ngụp trong tứ cú mà thôi!
Nietzsche là 1 triết gia hấp dẫn và tiện dụng mặc dù hơi lỗi mốt cho nhiều người Việt nam. Vì ông viết như thơ mà thơ thì vietnam ta thành thần. Hơn nữa ông lại viết theo điệu cách ngôn-như từ một thẩm quyền. Được đóng bảo hiểm bằng sự điên loạn kỳ vĩ nên những tăm tối u uẩn thành ra rất mực sang trọng. Cho dù hậu hiện đại chưa lên ngôi thì bản thân cái cảm giác ta, chỉ ta hiêu hiểu ông và ông, chỉ ông hiêu hiểu ta, biện minh cho những dúm dó bợt bạt phóng túng của ta. Bây giờ tình thế có vài thay đổi nhỏ theo chiều hướng tiện dụng hơn - chỉ cần vài nhà văn đương đại u uẩn là đủ.
Đọc cuốn "Schopenhauer-nhà giáo dục" của Nít xong thấy 2 điều.
1. Buồn nản. Sự học thăm thẳm, nếu như những gì mình thấy được từ đây (sẽ nói 1 chút ở mục 2) giúp mình sáng tỏ được đôi điều về cách đọc ông thì nó cũng chỉ ra khối lượng khổng lồ bắt buộc của cái học công truyền, nếu muốn thực sự biết được điều ông nói là nói với ai, lúc nào, ở đâu... Và với triết gia nào cũng vậy cả. Trừ phi là thiên tài, mọi huênh hoang từ dăm ba đoạn sách này nọ đều khiến chúng ta thành kẻ phét lác mà thôi :(
2. Ba nỗi hiểm nguy của nhà triết học/người triết lý:
- Sự hiểm nguy cô độc. "Đó là một kẻ cô đơn về mọi mặt, họ không có đến một người bạn thân thực sự hiểu họ, an ủi họ, và giữa chỉ một kẻ không thôi và không ai cả, cũng như giữa một cái gì với không có gì cả có một vực thẳm hun hút, khi ta có những người bạn đích thực, ta không hiểu được thế nào là thực sự cô đơn, thế nào là toàn thể cuộc đời chống lại mình"
- Cái thứ hai là đã toan tuyệt vọng về chân lý. "Việc khảo sát về những triết gia một nửa hay triết gia một phần ba không có cái thích thú nào hơn là chứng tỏ rằng họ là những kẻ mà, trong dinh thự đồ sộ của triết học, điểm quan trọng là được do dự theo lối mô phạm rởm giữa cái theo và cái chống, cái lý luận phù phiếm, cái hoài nghi, cái mâu thuẫn, tức là những cái ban cho họ quyền lẩn tránh sự đòi hỏi chính đáng của mọi nền triết học lớn lao, mà ý nghĩa của nó là thế này: "Này đây là hình ảnh mọi cuộc đời, hãy suy ra từ đó ý nghĩa cuộc sống riêng tư của anh. Và đổi lại, hãy phá giải ý nghĩa đời anh, anh sẽ khám phá ở đó những chữ mật của cuộc đời toàn thể"
- Cái nguy hiểm thứ ba-cái nguy hiểm lạ lùng nhất: sự kết hợp vô đạo giữa sự chống đối kiên cường (phú bẩm của những kẻ cảm thấy thoả mãn và đầy đủ, chắc chắn về sức mạnh của mình, không ao ước gì hơn nữa...) với nỗi niềm tiếc thương hoài vọng (tái sinh trong con người 1 vị thánh hay 1 thiên tài)
Thích nhất câu này của nhà bác Mai Sơn kia:
Tự do
Là thoát khỏi mọi sự trói buộc
Nhưng tự do còn là thoát khỏi sự phóng đãng của lý trí
Nó hợp với mình lúc này-thoát khỏi sự phóng đãng không bằng cách: cảm và tóm tắt sự đời theo ý mình :D
Mình kính mộ những tâm cảnh giản phác thế này:
Tiếng chuông lòng
Tiếng chuông lòng dội buổi tan sương.
Đính lễ quy y trước Phật đường…
Soi tỏ tâm linh nhờ đuốc tuệ
Rưới tan tục luỵ, sẵn cành dương
Giữ niềm bác ái không sai chậy
Thời bệnh sân si khỏi vấn vương
Tôi cũng như ai phường đạo hữu
Mong vào cửa Phật đến Tây Phương.
(Bài thơ cuối cùng của Ưng Bình Thúc Giạ thị).
Thứ Tư, 11 tháng 7, 2007
Tái tạo tân thanh...
Ảnh từ blog của bác 7x
http://360.yahoo.com/profile-MSAoN0o_fLMd9mR.yEDzfA--?cq=1
Dạo này mình gặp vấn đề về đọc. Đành rằng cách đọc phụ thuộc vào loại sách nhưng nếu trước đây mình có thể đọc lướt rất nhanh thì hiện nay lại luôn bị cảm giác cầu toàn làm cho việc đọc tài liệu trở lên chậm chạp. Nhất là những lúc đọc những thứ chỉ vì công việc chứ không phải vì hứng thú.
Cũng nói về cách đọc, thời gian gần đây cũng có sự thay đổi trong cách đọc sách của mình. Trước đây khi đọc mình thường kết hợp việc đánh dấu những ý quan trọng và ghi những nhận xét bất chợt bên lề - những nhận xét này phần nhiều là thoáng qua và thường không liên quan chặt chẽ đến văn bản, nhưng nó là cách hay để đánh dấu cảm nghĩ lúc đọc và dễ làm tái hiện cho những lần sau - cho đến khi kết thúc trọn vẹn 1 ý nào đấy thì ghi lại những logic chính ra giấy như 1 kiểu rút gọn. Cách đọc này mình đã thử như trong phần tóm lược tiểu luận phân tâm học của EF ở 1 số entry trước. Cách căn lề theo cấu trúc logic hình cây cũng tiện cho việc theo dõi văn bản. Tuy nhiên cũng chỉ là cách làm linh động không nên máy móc quá vì xét cho cùng có phải bài viết nào cũng chặt chẽ và tuân thủ duy nhất logic hình thức như toán học đâu. Ưu điểm nữa của kiểu đọc này là có thể nhận ra được bằng cảm nhận và logic những chệch choạc sai lệch nếu là đọc 1 bản dịch ngay cả khi mình không đọc được nguyên bản (Nhất là trong khi đa số những sách mình tìm đọc đều chịu cảnh chệch choạc không thể tránh khỏi này). Bằng vào việc giữ 1 tinh thần "để mở" như những nhận xét tạt ngang kia, nương theo mạch lạc của tác giả, nương nhẹ và lưu ý những chệch choạc, độ chênh, khoảng lùi, nếp gấp của văn bản...ta có cái thú được gần như tái tạo lại, tham gia vào quá trình suy tư của tác giả, nhận ra cả chỗ khó nói của văn bản. Nhiều khi, trong lúc đọc cứ tưởng sẽ viết lại những cảm nhận suy nghĩ thật sâu sắc, đầy đủ nhưng rốt cuộc khi gấp sách, nhìn lại những gì đã qua chỉ thấy không thể diễn đạt được điều mình đã thấy. Lại thấy cứ gạch đầu dòng, viết vu vơ bên lề là đúng nhất, vừa vặn nhất những gì cần nói. Càng lúc mình càng lảng tránh cách viết những diễn từ quá hoàn chỉnh, trau chuốt - viết như từ 1 thẩm quyền/mình tưởng tượng hơi tuyệt đối về cái thẩm quyền ấy! Lời nói chỉ có xu hướng như 1 sự điều tiết. Chình vì kinh nghiệm này mà mình đánh giá rất cao những tiểu luận của Francois Jullien về lối suy tư phương Đông - nó giúp ta nhìn lại chính ta 1 cách sáng tỏ, mạch lạc có căn nguyên.
Nhưng nhược điểm lớn nhất của cách đọc trên là mất quá nhiều thời gian dẫn tới sự trễ nải và đánh mất tính bao quát hiển ngôn thay vì những chiêm niệm. Vì vậy mình càng thấy bí quyết đầu tiên của việc đọc trong 1 cuốn sách gì đã được đọc ở nhà bạn etibohk là rất chí lí "Trước tiên phải đọc hết cuốn sách". Các bạn đừng coi thường điều này. Hãy thử kiểm nghiệm lại xem, tất nhiên chúng ta ngầm hiểu là đọc ở đây đồng nghĩa với đọc được điều gì đó.
Do vậy, dạo này mình thay đổi 1 chút: cố gắng theo dõi logic lớn ngay trên trang sách và đánh dấu những chỗ quan trọng hay thú vị. Viết bên lề là cách rất hay để ghi lại dấu ấn trí óc. Phần nhiều chỉ là viết lại những từ khoá quan trọng. Về mặt logic thì ko có gì nhưng về mặt kinh nghiệm thì rất hay - nó giúp ta nhanh chóng tái tạo lại ấn tượng, suy nghĩ của lần trước mỗi khi mở sách. Cũng nhắc lại là mình thường không đánh dấu chỗ đọc dở, nếu lần sau mở ra bắt nhịp từ đâu thì tiếp tục từ đấy-không nhớ thì cố làm gì. Cuối mỗi chương thì gạch đầu dòng những nét chính và nhận định của bản thân ngay trên trang sách đang đọc. Thường thì khi kết thúc tất cả rồi nhìn lại mới thấy về mặt nghĩa thì những nhận định phần nhiều vì chưa hiểu hết ý, ngộ nhận, hời hợt hay lệch lạc; nhưng về mặt ý thì chính nó đã be bờ cho dòng chảy được tái tạo 1 lần nữa cùng tác giả. Cách đọc này đã cải thiện đáng kể thời gian và công sức viết lách của mình. Tuy nhiên lại nảy sinh vấn đề khác: thấy chuyện này là kinh nghiệm chứ không phải là kiến thức và thật khó vô cùng để chia sẽ kinh nghiệm về điều gì đó. Hậu quả là ăn nói nhiều lúc rất dấm dớ ^-^
Nhân đọc bài viết trong blog của bác Đông A.
http://360.yahoo.com/profile-Uj79afQ1dKgK_DqY5hL3Of8-?cq=1
Thứ Bảy, 23 tháng 6, 2007
Nhàn đàm
Trích trong "Sống đẹp" của Lâm Ngữ Đường - bản dịch Nguyễn Hiến Lê.
------------------------
Thú đàm đạo
“Một đêm đàm đạo với anh còn hơn mười năm đọc sách” (Dữ quân nhất tịch thoại, thắng độc thập niên thư), một học giả Trung Hoa nói với bạn như vậy. Lời đó đúng và ngày nay mấy tiếng “nhất tịch thoại” hoặc “nhất tịch đàm” thường được dùng để tỏ cái vui đàm đạo với bạn. Cái vui đó rất hiếm, vì như Lý Lạp Ông đã nói, bậc minh trí chân chính thường không biết nói chuyện, còn người khéo nói chuyện thường ít khi minh trí. Cho nên đi chơi chùa trên núi, bỗng gặp được một cao sỹ vừa hiểu đời, vừa có tài nói chuyện, thì vui thích không kém gì một nhà thiên văn tìm được một hành tinh mới, hoặc một nhà sinh vật học tìm được một loài cây mới.
Người ta phàn nàn rằng ngày nay đời sống gấp rút bận rộn làm mất cái nghệ thuật nhàn đàm ở chung quanh lò sưởi. Tôi cho rằng tại đời sống cũng có, mà cũng tại nhà ở ngày nay không xây lò sưởi đốt củi như ngày xưa nữa, sau cũng còn tại ảnh hưởng của xe hơi. Trong một xã hội biết hưởng nhàn, có tinh thần hài hước, thích những cái tế nhị thì người ta mới thích nhàn đàm. Nói và nhàn đàm là hai việc khác nhau xa, cũng như viết một bức thư thương mãi với viết một bức thư cho văn hữu. Ta có thể nói là bàn chuyện làm ăn với bất cứ ai, mà chỉ có thể đàm đạo với một số rất ít người thôi. Cho nên khi gặp được một người thực là biết đàm đạo thì nỗi vui của ta có phần còn hơn là được đọc một cuốn sách thú vị vì ta còn được nghe tiếng nói, trông thấy điệu bộ của người đó.
Ban đêm là lúc thích hợp nhất để đàm đạo. Nơi chốn theo tôi không quan trọng: ngồi trong một phòng khách bày biện theo thế kỷ mười tám hay ngồi bên đống rơm trong một trại ruộng cũng có thể hưởng cái thú đàm đạo được. Có thể là một đêm mưa gió , ngồi trong một chiếc tàu trôi trên sông, nhìn ngọn đèn các chiếc thuyền neo gần bờ chiếu xuống dòng nước, ta được nghe trạo phu kể chuyện một thiếu nữ thời xưa được tuyển làm hoàng hậu ra sao. Nhàn đàm sở dĩ thú vị là vì hoàn cảnh, nơi chốn, lúc nói chuyện và những người nói chuyện thay đổi hoài, không lần nào giống lần nào. Có khi là hai ba người, có khi là năm sáu người; có lần cụ Trần hơi quá chén, có lần cụ Nguyễn phải cảm, hơi nghẹt mũi, mà câu chuyện thêm phần hứng thú. Những lúc vui trong đời thường ngắn ngủi, trăng không tròn hoài, hoa không tươi hoài mà bạn tốt không tụ họp hoài; ta hưởng những cái vui giản dị như vậy, lẽ nào bị hóa công đố kị?
Thường thường, một cuộc nhàn đàm thú vị giống một thiên văn chương bình tục, về cả nội dung lẫn lời lẽ. Đủ các đề tài: ma quỉ, hồ li, ruồi muỗi, cử chỉ kỳ dị của người Anh, điểm khác nhau giữa các văn hóa phương Đông và phương Tây, quán sách bên bờ sông Seine, cuống tính của một gã tập sự trong một tiệm thợ may, dật sử về các nhà lãnh đạo trong nước, chính trị gia cùng quân nhân, canh giữ những trái phật thủ cho được lâu…, bất kì cái gì cũng có thể là đề mục cho một cuộc nhàn đàm được cả. Còn lời lẽ thì nhàn thích có vẻ như một thiên tiểu luận. Dù đề mục quan trọng nghiêm trang tới đâu như bàn về những sự biến chuyển nó làm cho tình hình quốc gia bi thảm, hỗn loạn hoặc vì những tư tưởng chính trị vô ý thức nó làm cho văn minh suy đồi, tước đoạt mất quyền tự do, sự tôn nghiêm và cả hạnh phúc của con người nữa, thì trong cuộc nhàn đàm người ta vẫn giữ cái giọng ung dung, nhàn thích, thân mật. Vì trong một thế giới văn minh, dù ta giận dữ, bực tức tới đâu đối với những kẻ cướp giật quyền tự do của ta, thì ta vẫn chỉ có thể phát biểu tình cảm bằng một nụ cười hoặc bằng một ngọn bút nhẹ nhàng thôi. Chỉ khi nào ta ngồi với vài bạn cực thân ta mới trút hết nỗi phẫn uất một cách kịch liệt được. Điều kiện cần thiết cho một cuộc đàm đạo là chung quanh chỉ có ít bạn thân mà không có kẻ nào mình ghét để có thể tự do, thảnh thơi phát biểu ý kiến.
Một bài tiểu luận giọng thân mật với một bản tuyên ngôn chính trị khác nhau ra sao thì một cuộc nhàn đàm với một cuộc trao đổi ý kiến cũng khác nhau như vậy. Mặc dầu trong những bản tuyên ngôn chính trị có nhiều tình cảm cao thượng như lòng yêu chính thể dân chủ, lòng muốn phụng sự, hy sinh cho Tổ quốc, lòng lo lắng cho đời sống kẻ nghèo, lòng yêu hòa bình, tinh thần thân ái với các quốc gia khác, lòng không tham quyền, tham danh, tham lợi, mặc dầu vậy, những bản tuyên ngôn đó vẫn tiết ra một mùi gì làm ta phải đứng xa ra, không muốn lại gần, cũng y như ta thấy một phu nữ ăn mặc sang trọng quá, tô son trát phấn quá. Trái lại, khi nghe một cuộc đàm đạo hoặc đọc một tiểu luận thú vị, ta có cảm tưởng thấy một thôn nữ ăn bận giản dị, giặt quần áo bên bờ suối, tóc tuy lòa xòa, áo tuy mất chút nút, nhưng trong vẫn có vẻ thân ái.
Cho nên giọng một cuộc nhàn đàm phải là cái giọng thân mật, tự nhiên; mà những người trong cuộc hoàn toàn quên hẳn mình đi, không nhớ tới mình nữa, không giữ ý chút nào cả mà cũng chẳng quan tâm tới hướng của câu chuyện. Bạn thân gặp nhau, cởi mở tấm lòng với nhau thì cuộc nhàn đàm mới thật là thú vị: người gác chân lên bàn, kẻ leo lên ngồi trên thành cửa sổ, kẻ lại kéo cái nệm trên đi – văng xuống đặt trên sàn mà ngồi. Có vậy thân thể ta mới được nghỉ ngơi, mà trong lòng mới bình tĩnh, khoan khoái. Lúc đó là lúc có thể ngâm hai câu thơ này:
“Nhãn tiền nhất tiếu giai tri kỷ,
Tọa thượng toàn vô ngại mục nhân”
(Trước mặt cười cười đều là bạn tri kỷ
Bên cạnh không có người nào chướng mắt mình)
Đó là điều kiện cần thiết cho những cuộc nhàn đàm chân chính. Vì chẳng ai quan tâm đến điều mình nói, cho nên câu chuyện tiến lui chẳng theo thứ tự, một chủ ý gì cả, và khi chia tay, ai nấy đều hoan hỷ.
Có một sự liên lạc mật thiết giữa sự đàm đạo và sự an nhàn; mà cũng có một sự liên lạc mật thiết giữa sự đàm đạo và sự phát triển của tản văn vì chỉ khi sự đàm đạo đã thành một nghệ thuật thì tản văn mới tấn bộ. Ta nhận thấy rõ điều đó trong tản văn Hy Lạp và Trung Hoa. Mấy thế kỷ sau Khổng tử, tư tưởng Trung Hoa phát triển mãnh liệt, theo tôi nguyên nhân chỉ là vì thời đó đã phát sinh được một giới học giả khá đông mà suốt đời chỉ có mỗi công việc là ăn rồi thì đàm đạo. Tôi xin chứng minh ức thuyết của tôi. Thời Liệt quốc đó có tới năm vị công tử hào phú rất hiếu khách, rộng rãi, lễ độ, tử tế. Vị nào cũng nuôi cả ngàn thực khách trong nhà, như Mạnh Thường Quân nước Tề có tới ba ngàn thực khách toàn là đi giày dát ngọc cả. Ta thử tưởng tượng cảnh ồn ào ra sao. Những cuộc đàm đạo của bon thực khách thời đó nay còn chép trong những bộ Liệt Tử, Hoài Nam Tử, Chiến Quốc Sách và Lữ Thị Xuân Thu. Và ta nên nhớ rằng thời đó người ta đã có một quan niệm về nghệ thuật sống rồi, đại ý là nếu không sống một cách nghệ thuật thì thà đừng sống còn hơn. Ngoài bọn học giả đó ra, còn một bọn tung hoành gia nổi danh, tức bọn hùng biện nhà nghề, được các vua chúa dùng vào việc du thuyết các nước láng giềng, gây bè đảng trong cuộc chiến tranh để thôn tính lẫn nhau. Bọn tung hoành gia đó rất thông minh, mẫn tiệp, khéo dùng tỷ dụ và có khẩu tài. Những biện thuyết của họ chép trong bộ Chiến Quốc Sách. Trong cái không khí tranh luận tự do và hào hứng đó, xuất hiện vài đại triết gia như Dương Chu, người chủ trương thuyết “vị ngã”, Hàn Phi Tử, một chính trị gia có tinh thần thực tế, tựa như Machiavel của phương Tây, nhưng ôn hòa hơn, và Yến Tử, một nhà ngoại giao nổi danh về tài biện luận mẫn tiệp.
Chỉ khi nào trong xã hội có hoàn cảnh an nhàn thì nghệ thuật đàm đạo mới phát triển, mà nghệ thuật đàm đạo có phát triển thì thể tiểu luận, tùy bút mới phát triển. Xét về đại thể thì cả hai nghệ thuật đó đều xuất hiện tương đối trễ trong lịch sử tấn bộ của văn minh vì chúng ta cần có điều kiện này: trí óc của ta phải đạt tới một trình độ mẫn tiệp thảnh thơi đã. Ngày nay nhiều người cho rằng hưởng cảnh an nhàn, đứng vào thành phần giai cấp ăn không ngồi rồi cũng đủ là đáng ghét, là phản cách mạng rồi, nhưng tôi tin chắc rằng chính thể nào, dù là Cộng Sản chân chính hay Xã Hội chân chính thì cũng mong rằn một ngày kia có thể làm cho mọi người trong xã hội được hưởng cảnh an nhàn. Vậy sự hưởng nhàn không thể là một cái tội, hơn nữa ngay sự tấn bộ của văn hóa cũng tùy thuộc cách khéo sử dụng những lúc nhàn, mà đàm đạo là một hình thức của cách sử dụng đó. Những nhà kinh doanh bận rộn suốt ngày, ăn cơm tối xong là đi ngủ liền và ngáy như bò rống, nhất định là không giúp cho văn hóa được chút nào cả.
Đôi khi ta không tự ý lựa được mà bắt buộc phải chịu cảnh nhàn và nhiều tác phẩm văn chương đã xuất hiện trong những trường hợp như vậy. Chúng ta còn nhớ rằng bộ Chu Dịch do vua Chu Văn Vương viết trong ngục Dữu Ly để luận về những lẽ biến dịch trong đời sống; và bộ lich sử kiệt tác của Trung Hoa, tức bộ Sử Kí, do Tư Mã Thiên viết trong khám. Đời xưa có nhiều tác giả vì lận đận trên hoạn đồ, không thoả được chí bình sinh mà hoá ra thương tâm, thất vọng vì việc nước, về ở ẩn và viết được những tác phẩm bất hủ. Chính vì vậy mà đời Nguyên, dưới chế độ của Mông Cổ, sản xuất được nhiều hoạ gia và hí khúc gia; và đầu đời Thanh cũng sản xuất được nhiều hoạ gia như Thạch Đào và Bát Đại Sơn Nhân. Lòng ái quốc của người dân một nước bị ngoại bang đô hộ có thể biến thành lòng hy sinh cho nghệ thuật và học vấn. Thạch Đào là một trong những hoạ gia vĩ đại nhất của Trung Hoa, bị Thanh triều dìm xuống vì tinh thần bất khuất của ông; do lẽ đó mà danh tiếng của ông không vang lừng và người phương Tây không biết tới. Ngoài ra còn những người học rộng tài cao mà thi hoài không đậu, phát phẫn, tận lực sáng tác, như Thi Nại Am, tác giả bộ Thuỷ Hử và Bồ Tùng Linh, tác giả bộ Liêu Trai.
Trong bài tựa bộ Thuỷ Hử có một đoạn rất hay, tả cái thú đàm đạo với bạn thân:
"Bạn của tôi mà tới đủ mặt thì được tới mười sáu người, nhưng ít khi họ tới đủ, mà cũng ít khi không có một người nào tới, trừ những ngày mưa gió. Thường thường ngày nào cũng năm sáu người. Khi tới, họ cứ tuỳ ý, muốn uống rượu lúc nào thì uống, muốn ngưng lúc nào thì ngưng, vì họ cho rằng vui ở trong sự đàm đạo chứ không phải ở rượu. Chúng tôi không bàn về triều đình, không những vì lẽ chúng tôi không quan tâm tới triều đình mà còn vì lẽ đường thì xa, tin tức phần lớn là truyền khẩu cả, mà lời truyền khẩu thì không xác thực, bàn về những điều không xác thực chỉ là phí nước miếng. Chúng tôi cũng không bàn đến những lỗi lầm của thiên hạ, thiên hạ vốn không có lỗi lầm và chúng tôi không muốn vu oan cho người ta. Chúng tôi cũng không muốn làm kinh động tới ai cả, mà muốn cho người ta hiểu điều chúng tôi nói, nhưng người ta không hiểu, vì những điều đó đều thuộc về tính tình con người, mà người đời lại bận rộn quá nên không chịu nghe".
Thi Nại Am viết bằng lối văn và những tình cảm như vậy, ông lưu lại được bộ Thuỷ Hử vì ông có nhiều lúc nhàn.
Tản văn Hy Lạp cũng phát triển trong một bối cảnh xã hội tương tự. Đọc nhan đề tập "Đàm thoại" (Dialogues) của Platon, ta cũng thấy ngay rằng tản văn Hy Lạp sở dĩ giản khiết, sáng sủa là do ảnh hưởng của nghệ thuật nhàn đàm. Trong "Bữa tiệc" (Banquet), một nhóm văn nhân ngồi trên đất đàm đạo vui vẻ với nhau, chung quanh là rượu, trái cây và những thiếu niên ưu tú, vì họ luyện nghệ thuật nói cho nên tư tưởng của họ mới sáng sủa, văn của họ mới giản khiết, cho ta cảm giác mát mẻ dịu dàng, trái hẳn với lối văn khoa trương, thông thái rởm của các văn sĩ hàn lâmm ngày nay. Người Hy Lạp thời đó đã tập được cái thái độ bàn về triết học một cách nhẹ nhàng.
Trong một cuộc đàm đạo thanh nhã, nên có ít nhiều phụ nữ để gây cái không khí phù phiếm vui vẻ không thì cuộc đàm đạo sẽ nặng nề, mà ngay đến triết học cũng sẽ hoá ra vô vị, không hợp với nhân sinh. Nước nào cũng vậy, thời nào cũng vậy, hễ văn hoá quan tâm tới nghệ thuật sống thì phụ nữ được hoan nghênh trong các cuộc hội họp, tức như trường hợp thành Athènes thời Péciclès và trường hợp nước Pháp ở thế kỷ 18. Ngay ở Trung Hoa, sự giao tế giữa trai gái bị cấm chỉ mà các văn nhân cũng muốn cho đàn bà dự vào các cuộc nhàn đàm của họ. Dưới ba triều Tấn, Tống, Minh tức những triều đại mà nghệ thuật thanh đàm rất thịnh hành, có nhiều phụ nữ đa tài như Tạ Đạo Uẩn, Triêu Vân, Liễu Như Thị nổi bật lên trong xã hội. Người Trung Hoa muốn rằng vợ phải có đức, không tiếp đàn ông, nhưng chính họ thích làm bạn với những phụ nữ đa tài, cho nên trong văn học sử Trung Quốc, ta thấy nhiều dấu vết của các tài nữ và danh kĩ. Tôi cho rằng ở khắp nơi, trong cuộc nhàn đàm nào người ta cũng muốn có phụ nữ cho thêm hứng thú. Tôi đã gặp được những bà Đức có thể luôn từ năm giờ chiều tới mười một giờ khuya, và nhiều phụ nữ Anh, Mỹ đã làm cho tôi kinh hồn vì nữhng hiểu biết của họ về kinh tế, môn mà tôi không bao giờ đủ can đảm để học. Dù không có những bà có thể bàn cãi với tôi về Karl Marx hoặc Engels, thì cuộc đàm thoại cũng rất thú vị, phấn khởi nếu một vài bà chịu khó ngồi nghe và tỏ vẻ trầm tư dịu dàng. Như vậy vui hơn là nói chuyện với những chàng ngốc.
Thứ Năm, 21 tháng 6, 2007
"Ils parlent tous de moi, mais personne n'a de pensée pour moi"
Truyền thống Trung Quốc học thường thường dịch thuật ngữ này bằng "lòng thành thực", điều này không phải không nhập nhằng so với những điều mà Khổng Tử quan tâm: không phải con người nói điều anh ta nghĩ mà anh ta phải làm điều anh ta nói. Khổng Tử không chê trách những lời nói có thể thiếu thành thực, nhưng chê trách lời nói gian xảo...Nói khác đi, quan tâm của Khổng Tử không phải ở chỗ lời nói phản ánh ý thức, mà ở chỗ nó không bị hành động bác bỏ; không phải nó phải chân thực mà nó phải có hiệu lực. Bởi hành vi - Khổng Tử biết nó theo kinh nghiệm - đó là bằng chứng duy nhất có giá trị...
Francois Jullien - Đường vòng và lối vào.
Thứ Bảy, 5 tháng 5, 2007
Đầu thềm hoa nắng reo...
"Tàn đêm, có đom đóm bay ở mé đồng xa..."
.....
Ngày tớ mới biết nói, chừng đâu 3 tuổi, buổi chiều ngồi đầu hè khu tập thể nhìn ra cánh đồng thấy có đàn trâu đi ngang qua ở phía xa xa, hình như đã gọi to lên rằng "Anh chăn trâu ơi, đừng ngồi lên lưng trâu như thế, bẹp bụng trâu mất...". Mọi người cười lăn cười bò còn tớ thì đương nhiên là không hiểu gì rồi. Bây giờ lớn, biết nói cũng khá lâu nhưng nhiều lúc vẫn ngập ngừng, không biết mình có hiểu đúng không...
.....
Lần đầu gặp cậu bạn sau này khá thân thiết, tớ đột nhiên bảo "Thấy tính anh hay, muốn rủ đi uống rượu". Lần đầu gặp em, tớ cũng đơn giản chìa tay ra "Tớ là T, chào bạn". Có lần đi nhậu với bạn ở Hồng Hạc Quán, say tuý luý nhìn sang bàn bên cạnh thấy vui bèn mò sang "Thấy các anh khoái hoạt quá, xin mời một chén cho vui...". Vỗ bàn vỗ ghế hát hò, loạng quạng ra về, giờ ký ức chỉ còn thoảng qua mơ hồ như vệt khói loang...
Có lần tớ lẩm nhẩm tính xem trong cuộc đời mỗi người bình thường sẽ "biết" được bao nhiêu người. Tính đủ các kiểu rồi thì con người quảng giao và dễ kết bạn như tớ cũng chỉ tối đa "biết" được vài chục nghìn người (ăn gian rất nhiều rồi). Đừng nói thế giới hơn 6 tỷ người, chỉ nói nước Việt Nam hơn 80 triệu cũng đã mênh mông ngợp mắt rồi! Nói gì người đời trước, nói gì người đời sau. Tớ lại nhớ cái cảm giác năm 11 tuổi đọc cuốn "Thiên văn học giải trí" của Nga có cái hình minh hoạ khái niệm vũ trụ vô biên của người Hy Lạp cổ đại. Nếu có một cái biên, nếu cứ cho là anh đi được đến cái biên đó, với thêm một tầm tay, vũ trụ lại rộng thêm một tầm với...Rất ấm ức và khó chịu vì mình thì hữu hạn mà trời đất lại vô biên. Rất khó chịu.
.....
Trước có lần tính vui với bạn rằng mình bây giờ có khoảng 1000 cuốn sách. Nếu mỗi ngày đọc 1 cuốn cũng phải mất 3 năm. Nếu mỗi tuần 1 cuốn thì mất 20 năm. Trong khi sách của mình thì phần nhiều đọc 1 cuốn cả đời không chắc đã hiểu. Bạn mới chia sẻ rằng "Đọc sách tuỳ theo nhân cảnh, hứng thú cũng có cái hay. Đôi khi buồn buồn, có tâm sự thì tìm đến thơ. Hay gặp đêm trăng sáng, gió hiu hiu...pha ấm chè, châm điếu thuốc rồi cầm quyển thơ cũng thú.
Đời sống thường ngày thi thoảng gặp truyện không vui, cũng nhiều khi cư xử hay hành động không biết có hợp nhân tình không? lại cầm quyển sách loại học làm người để vững tâm, làm chỗ nương tựa tinh thần. Vì đến độ tuổi này ta chỉ có hai người thầy: sách và bạn.
Đôi khi cảm thấy áp lực cuộc sống hiện đại làm ta mất cân bằng, cần có những trang sách viết về cuộc sống, để thấy cuộc sống của tiền nhân như thế nào. Thú hưởng nhàn của tiền nhân như thế nào...
Cần tra cứu những tài liệu gì thì có những loại sách chuyên môn. Như vậy quan trọng nhất là phân loại sách và cấp độ".
Ý của bạn rất hay nhưng tớ còn có điều vi tế chưa nói rõ được lúc đấy. Bởi vì, chuyện có thể dài mãi mãi...Chuyện kể rằng một ngày kia tớ nhận thấy, biết được sống là như con chó đứng trước vạc dầu sôi, bỏ đi không đành, liếm vào bỏng lưỡi. Biết là hiểu là một chuyện, biết là một chuyện khác. Từ đó tớ hoang mang cực độ. Không biết bấu víu vào đâu cả. Trong lúc đó bỗng gặp một giấc mơ kỳ lạ. Những suy nghĩ thật vô ngã và thẳng thắn. Từ đó tớ biết rằng hiểu bản thân cũng rất khó khăn và vô tận. Tớ bắt đầu tìm hiểu về Phân tâm học để hiểu chính mình. Việc nọ xọ việc kia, tớ lan man đi tìm bất cứ thứ gì khả dĩ nói cho tớ rõ về con người. Vượt qua và coi thường bất cứ thứ văn chương nào. Chỉ chọn đọc "sách của người đạt đạo" - cho nó lành. Việc đọc trở thành một điều gì đó thiết thân và thúc bách chứ không phải để giải trí - trí có làm gì mấy đâu mà giải. Lang thang mãi và kiệt quệ dần trong mê lộ. Chỉ biết 1 điều: Đời có thể vô nghĩa, nhưng vẫn có thể có 1 MỤC ĐÍCH. Tớ cũng đã đọc và biết về những tâm cảnh mê lầm khác nhau của con người. Cũng đủ thấm thía câu "Đạo cao một thước ma cao một trượng" là như thế nào. Giữa lúc đó tớ tình cờ đọc nhiều sách của cụ Nguyễn Hiến Lê. Tớ cảm động trước sự thẳng thắn và giản dị ở cụ. Thấy rõ mình đã thiếu những cẩn trọng từ_đầu như thế nào của kinh_nghiệm. Và tớ lặng lẽ trở lại từ những điều giản đơn nhất. Gạt bỏ tâm lăng xăng biện bác nông sâu. Cũng hơn lúc nào hết biết ơn cụ Nguyễn Duy Cần khi đọc được cuốn "Cái Dũng của Thánh nhân" sau bao lâu phóng túng bởi cái niệm "tướng do tâm sinh, tướng tuỳ tâm diệt". Đó cũng là duyên do vì đâu tớ chọn nick là HẠO NHIÊN. Nguyên lai tớ bị ám ảnh cái tinh thần lẫm lẫm của Mạnh Tử từ chữ ấy. Tớ vốn trước sau vẫn không thích Mạnh Tử như Thầy Khổng nhưng lúc đấy tớ biết tớ cần nương vào cái "bất động tâm" của Mạnh Tử mà ngồi dậy. Nhưng hồi đó khi đọc NHL tớ cũng đã ghi vào sổ tay điều này:
"Những người thành công đều biết cách chia thời gian của mình thành những kế hoạch cho những hành động cụ thể. Nhưng người ta chỉ có thể chia được những cái hữu hạn, những cái cụ thể. Khi người ta nhìn cuộc đời là cái vô thường bất hoặc thì chia làm sao đây?
Người ta cứ mải đi tìm "ý nghĩa" của cuộc đời, đến nỗi nếu bị sự "vô nghĩa" ám ảnh thì đó là địa ngục. Tạm bỏ qua việc có hay không cái ý nghĩa ấy; chỉ xét riêng vấn đề là "từ đâu, khi nào, con người lại nảy sinh nhu cầu tra xét vấn đề này? Hậu cảnh nào cho nó?
Không hẳn là cảm nghiệm mơ hồ về sự đau đớn dằn vặt do ly cách nữa, mà là con người bình thường phải_có 1 sự ly cách, 1 sự giãn ra xa để mà - 1 cách ảo tưởng - xoa dịu cảm nghiệm cô độc. Họ phải có 1 phần khác, thuộc về họ, mà không trong tầm tay họ để mà tin rằng họ "có mối liên hệ" với ngoại giới.
Người tự học có một vấn nạn là luôn luôn không biết bao nhiêu là đủ, để mà có thể phân phó thành kế hoạch; thành ra luôn luôn nghèo đói bên cạnh một gia tài!"
Năm trước nói chuyện với thằng em trai, nó cũng bảo "em thấy anh rất hiểu biết nhiều điều nhưng tại sao em luôn có cảm giác anh cứ chung chung không thể cụ thể được. Em là dân kỹ thuật, với em mọi cái phải là những projet cụ thể và em luôn biết là có thể đạt đến được...". Hờ hờ, chả biết nói sao nữa.
...
Tớ xem lại ngày thành công dân mạng "29 Oct 2005" vậy là được khoảng 1 năm rưỡi. Đủ để biết thêm nhiều điều và có thêm đôi ba người bạn. Nhưng net dễ làm người ta nghiện ngập, sa vào những thứ ăn xổi, vội vàng. Chỉ nội triệu chứng này là cũng đáng phải cai rồi: ngày nào cũng muốn xem xem "có gì mới không"! Chỉ vậy thôi, lăng xăng thật. Điều gì tớ cũng thử qua rồi, chỉ còn ngồi xuống và yên lặng nhìn bản tâm mình là chưa làm đến nơi đến chốn thôi. Nên hôm nay quyết định sẽ cai net. Thỉnh thoảng vào thăm bạn bè để tiện liên lạc. Hết.
...
"Bạn cấp 2" - tin là nói ra mấy từ này nhiều bạn đồng cảm. Bạn cấp 2 là bạn không cần hiểu nhau mấy nhưng rất tin tưởng nhau, thứ tin tưởng tuyệt đối chỉ có trong tuổi thiếu nhi của mỗi người. Tớ cũng có 1 nhóm bạn như vậy. Chỉ để độ mỗi tháng 1 lần, rủ nhau đi nhậu, xong rồi vào phòng karaoke tranh giành mic hát như rồ dại. Tớ cũng biết đấy là chứng "khổ dâm tinh thần" của người hiện đại nhưng tớ kệ. Khi tớ kệ được nhiều khi tớ hát cũng hay...phết. Kinh nghiệm là: hãy cố giành lấy mic để đỡ phải nghe đứa khác nó tra tấn mình. Phần cuối của đêm bao giờ cũng là một trận sát phạt đỏ đen đến sáng...để chia tiền. Mỗi sớm mai đến như vậy, tớ lại lo rằng bạn tớ có đọc được "Cái Dũng của Thánh nhân" của cụ Nguyễn Duy Cần chưa để biết rằng đừng nên như thế?
"Muốn lên chỗ cao, phải khởi từ chỗ thấp. Muốn được một tinh thần bất uý, điềm đạm như các bực Thánh nhân, trước hết phải biết những nguyên nhân khiến lòng ta hay chao động, sợ sệt... Sợ, không phải là một chứng bịnh nan y. Phải có chí, và kiên tâm thì làm gì không đạt được ý nguyện."
Con mắt thứ 3 của tớ thấy rằng lũ chúng tớ những lúc ấy hệt như 1 đám đom đóm bay lập loè ở mé đồng xa lúc tàn đêm...Lập loè.
....
Ai hát ngoài song đó
Đầu thềm hoa nắng reo...
Tàn đêm, có đom đóm bay ở mé đồng xa...
Create your own visitor map!
Vừa khéo entry thứ 99 này để hoàn tất loạt bài viết về Tết Trùng Cửu vừa rồi. Như đã nói từ đầu, tớ viết entry này như thể trả bài cho câu hỏi "ý bác là thế nào?" thôi chứ không vì cảm xúc nào dâng trào cả :( Nhưng có nhiều điều thường khi viết ra mới là khi suy nghĩ đến và nghĩ ra cái gì đó - nên cũng không thể nói ở đây là tuỳ tiện viết được. Bây giờ lục lại vài ý kiến ngẫu nhĩ của bạn net đây đó làm duyên cớ đưa đẩy cái coi.
http://www.yxine.com/forum/forum.php?action=showmsg&box_id=1&msg_id=2546
Ý kiến của bạn phandienanh khá bao quát:
Trong ba phim cổ trang của Trương Nghệ Mưu thì Hoàng Kim Giáp xem ra là hay nhất - vừa không quá khó hiểu kiểu Anh Hùng, lại không có đơn giản như Thập diện mai phục. Nhưng Anh Hùng có thể bật lên xem đi xem lại màn đánh nhau cho sướng mắt, Thập diện mai phục có thể tua tới tua lui xem Tiên nữ dẫn đường, còn Hoàng Kim Giáp xem xong thẫn thờ, nhưng rồi không muốn xem lại vì không muốn lòng nặng trĩu.
Hoàng Kim Giáp dựa theo tứ truyện Lôi vũ của Tào Ngu, kể về sự băng hoại của một gia đình. Trương Nghệ Mưu chỉ mượn tứ, còn câu chuyện của Hoàng Kim Giáp đáng sợ hơn ở một tầm rộng hơn. Nó không chỉ dừng ở câu chuyện một gia đình mà rộng hơn là câu chuyện của một quốc gia, với những âm mưu nham hiểm, thâm độc, ghê tởm của mỗi con người trong bi kịch đó. Đây kẻ gian hùng giết người tình vì đại nghiệp, đây chồng đầu độc vợ mỗi ngày với thú vui chứng kiến vợ mình chết dần mòn trong đau đớn, đây vợ thông dâm với con trai riêng của chồng, kích động con trai mình giết cha đoạt ngôi, đây anh trai quan hệ ái ân với em gái, đây con trai phản cha, giết anh... Trương Nghệ Mưu khắc hoạ hết những mưu đồ toan tính đáng sợ của mỗi con người, để trong sự náo loạn đấy thấy được tấn bi kịch của từng số phận, mà trong đó là bi kịch của hoàng tử hai phân vân giữa tình mẫu tử và lòng trung kiên, của hoàng tử nhất giằng xé giữa sự quỳ luỵ hèn mọn với ham muốn được yêu.
Nếu xem Hoàng Kim Giáp trong tổng thể của ba phim mà Trương Nghê Mưu đã từng làm càng thấy sức sáng tạo đáng nể của ông. Không phim nào giống phim nào về phong cách dàn dựng, phong cách kể chuyện, phong cách võ thuật và phong cách màu sắc. Phim Anh Hùng sử dụng đơn sắc, mỗi màu mang phép ẩn dụ cho một triết lý, một câu chuyện, thì Thập diện mai phục sử dụng phép phối ba màu trong một cảnh để kể câu chuyện của ba con người, và Hoàng Kim Giáp thì sặc sỡ phù phiếm như chính sự rối bời của một gia đình, một triều đình mục nát. Phim nào cũng khoác vẻ bề ngoài màu sắc giải trí, xem võ thuật múa may rất đặc trưng văn hoá Trung Hoa, nhưng phía sau lại là ám chỉ chính trị. Anh Hùng tôn vinh chủ nghĩa hùng bá của Trung Hoa, còn Hoàng Kim Giáp với cảnh triệu hoa vàng ở trước Tử Cấm Thành bị giày xéo đẫm máu, ngay sau đó là đại tiệc Trùng Dương như thể chưa từng có gì xảy ra khiến gợi nhớ đến vụ thảm sát ở nơi đây năm 1989.
Báo chí Trung Hoa cứ ngày đêm chê bai phim của Trương Nghệ Mưu, nhưng càng đọc càn thấy nực cười. Một mặt phê bình rằng phim của Trương Nghệ Mưu không còn nghệ thuật như trước, mặc khác bảo rằng Trương nghệ Mưu làm phim cho Hllywood bỏ quên khán giả trong nước, trong khi phim thương mại của ông thì ăn khách, phim nghệ thuật thì lại chẳng được đoái hoài. Thực tế những phim mà báo chí ngày nay ca tụng rồi tiếc rẻ mà ngày xưa họ Trương làm đích thị là làm cho Tây vì phim chỉ toàn chiếu ở các Liên Hoan Phim quốc tế chứ nào được chiếu ở bản xứ vì bị cấm đoán. Ngay cả Việt Nam ngày xưa cũng có cho chiếu Phải Sống đâu, mãi đến khi Trung Quốc cho chiếu thì Việt Nam lúc đó mới gật đầu để phim này được trình chiếu rộng rãi.
Và vẫn nhấn mạnh lại lần nữa: Hoàng Kim Giáp cho thấy nội lực của Trương Nghệ Mưu rất đáng sợ. Nhất là so với Trần Khải Ca chỉ mới làm một Vô Cực mà đã đuối như con cái chuối.
Mình rất thích cái ý cho rằng "Phim nào cũng khoác vẻ bề ngoài màu sắc giải trí, xem võ thuật múa may rất đặc trưng văn hoá Trung Hoa, nhưng phía sau lại là ám chỉ chính trị" tuy nhiên mình cho rằng điều đặc sắc nhất của bạn này là đã nhìn ra rằng "Mãn Thành Đái Tận Hoàng Kim Giáp" không phải là phim làm cho Tây xem mà là phim làm cho Trung Quốc xem! Điều này cũng phần nào giải thích ý kiến của các bạn khác:
merrimy:
Mình không thích xem film này, bởi vì nó cho mình cái cảm giác không chân thực, đó là cảm giác : hoàn hảo. Đúng là để ý 1 tí các bạn sẽ cảm nhận được cái cảm giác như thế, quần áo, cung điện, đài các, quân đội...tất cả đều toát lên 1 cái vẻ gọi là hoàn hảo. Quần áo tất cả đều dát vàng, không một tì vết, quân đội đi đều tăm tắp, đội phục dịch cũng đều tăm tắp..Nói chung đây giống 1 vở kịch hơn là 1 bộ phim. Chả để lại trong lòng người xem 1 cảm xúc gì..
SowrdFish:
Một bộ phim làm lại từ kịch bản Lôi Vũ. Về hiệu quả hình ảnh và âm thanh thì không còn gì để nói vì Trương nghệ Mưu đã là một bậc thầy thật sự. Nhưng theo riêng tôi, đạo diễn Trương đã phần nào thất bại về mặt kịch bản. Quan điểm của tôi :
1. So với kịch bản gốc Lôi Vũ, quan hệ giữa đương kim hoàng hậu (Củng Lợi) và thái tử là khiên cưỡng vì khoảng cách tuổi tác. Hoàng hậu đã có con là hoàng tử Zai tuổi chắc cũng gần bằng thái tử.
2.Cựu hoàng hậu bỏ trốn và làm vợ thái y mà vua và mọi người không biết, chuyện đó chỉ có thể xảy ra đối với một gia đình hào phú chứ không thể đối với một hoàng triều.
3.Tuyến nhân vật chính 5 người gồm vua, hoàng hậu và 3 vị hoàng tử và đường dây xung đột quá rõ ràng ngay từ đầu, không hề có thêm sự đột biến hay nút thắt nào, là quá it cho một kịch bản phim hoành tráng. Điều đó chỉ phù hợp với một vở kịch. Các nhân vật phụ chỉ là những bóng mờ.
4.Tâm lý của vị hoàng hậu là không thể hiểu nổi khi biết trước âm mưu có thể bị thất bại nhưng vẫn đẩy hoàng tử Zai con mình vào chỗ chết.
5.Điều cuối cùng, các cảnh quay hoành tráng chỉ đem lại hiệu quả về thưởng thức thị giác, nó không hề đem lại kịch tính hay cao trào để bổ sung vào nội dung vốn đã đơn giản của phim.
Có lẽ vì lẽ đó mà đã có một luồng dư luận phê bình về sự thất bại của phim này ngay tại Trung Quốc.
Các ý kiến của các bạn này đều nhận thấy "phim gì mà kịch quá"...Kịch thật, vì các bạn có thể nhận ra những yếu tố của kinh kịch theo liệt kê ở trên của các bạn ấy; từ tuyến nhân vật (thì đương nhiên do chép lại từ một vở kịch), đến cái tính ước lệ đều tăm tắp, cái màu sắc huy hoàng quá lố...Nhưng câu hỏi mà tớ gặp phải ở đây là "tại sao một đạo diễn bậc thầy như họ Trương lại để yếu tố kịch nó nổi cộm lên một cách phô như vậy?". Mà tớ thì chưa bao giờ dễ dãi chê bai người khác cả nên tớ ngờ rằng nó có nguyên cớ. Tớ lại ít định kiến nghệ thuật nên tớ đồ rằng hẳn "đại biện nhược chuyết" trong việc này có gì xảo diệu đây. Theo lệ, tớ lần lại từ gốc rễ vấn đề "nói với ai" và tớ thấy đích thị đây là bộ phim dành cho những tâm hồn Trung Hoa xem. Nói tâm hồn Trung Hoa để kể thêm những tri âm từ bên ngoài Trung Quốc có thể hoà điệu với một tác phẩm thấm đẫm tinh thần post-modern đến vậy.
Tất cả đều là kịch! Kịch hết ráo. Kịch từ thủ pháp tạo hình, cắt dán bố cục màu sắc, phông nền. Các bạn để ý đến các chi tiết màu sắc của phục trang các nhân vật hay các tuyến nhân vật phụ như các đội quân...chúng đều có dụng ý cả. Ví dụ như quân của Hoàng đế có 2 loại: một đội mật vụ áo đen và đội quân xung sát cuối phim giáp trắng. Màu trắng là màu gì vậy cà? Kịch cả trong thời điểm và bối cảnh của phim: tại sao thường là đời Hậu Đường (hình như Thập diện mai phục cũng lấy bối cảnh Hậu Đường hay Đường Mạt gì đấy)? Là tớ đồ rằng thời loạn lạc đó vô hại - các triều đại đó của giống Sa Đà, chả liên hệ gì với Đại Hán vinh quang cả. Mà nó lại là sự kéo dài của Trung Hoa rực rỡ thời Đường - người Trung Hoa cận đại vẫn tự gọi mình là những "Đường nhân". Vậy đấy, thật giản tiện để "kể chuyện non nước mình"!
Nhưng tuồng hay vẫn chưa dừng ở đấy. Có bạn bỉ bai nhiều về tính chân thực của yếu tố lịch sử. Có bạn biện hộ thay là đấy là phim truyền kỳ, cần gì chính xác. Hay cho câu "cần gì chính xác" này! Đây chính là dụng ý của Trương tiên sinh: tất cả là phiếm chỉ. Một tinh thần hậu hiện đại chính cống: phục trang rực rỡ huy hoàng, ngực trần phơi phới, những mái tóc "hận trời cao" (lời 1 bạn net), những kiểu móng tay giả của Thanh triều, kiểu ninja Nhật bản trong cung...nhưng trên hết có 1 chi tiết ít bạn hiền để ý: đấy là bối cảnh cung đình này được dùng chính Tử Cấm Thành của những triều đại cuối cùng (Minh, Thanh). Tức là bất xá lịch sử rồi. Ngây ngô đến mấy cũng phải biết thời Hậu Đường thì làm sao lại bê nguyên xi cái Tử Cấm Thành vào được? Kệ, ông cứ bê vào đấy. Trong bài "Xênh xang 1 cõi" viết về TDMP tớ đã nói đến cái phi không gian, phi thời gian của bối cảnh một lần, ở đây cũng thế: một sự phiếm chỉ, một tinh thần trào lộng cao độ. Tớ cá rằng, lúc cậu hoạ sỹ phục trang hỏi ý kiến đạo diễn, anh đạo diễn vỗ vai bảo "được đấy, nhưng anh thích chú cứ phiêu đi cho anh, ngực trễ xuống, tóc bới lên, thêm móng vuốt vào...thế, thế...cho nó phê..như con tê tê...". Ai cũng dễ nhận thấy phim này màu vàng được dùng quá độ, mất cả hài hoà và 1 tiết tấu uyển chuyển tối thiểu. Ngực trần cũng quá độ. Ngực trần làm tớ nhớ đến những nhận xét của Richard Appignanesi - Chris Gattat trong cuốn "Nhập môn Chủ nghĩa Hậu Hiện Đại" về nghệ thuật toàn trị dưới thời Stalin và Đức quốc xã trong thập niên 1930 - "Một sự pha trộn giữa thứ khiêu dâm nhẹ nhàng ngọt ngào với chủ nghĩa hiện thực anh hùng đã trở thành tín điều".
Giữa những la ó khúc khích của người xem, là cái cười tủm tỉm lom dom của bộ phim về tất cả mọi thứ. Quá độ thì đã sao? Lố bịch thì đã sao? Chệch choạc thì đã sao? Đạo mạo mà lố bịch. Phim mà kịch. Kịch mà phim. Tất cả diễn ra để kể về một ngày đặc biệt, tấn trò đời gói gọn trong một đêm - đêm Trùng Cửu, ngày của Lão Dương. Thôi, đã trượt đi mất rồi những ý tưởng phân tích bình luận về những tuồng "trung, nghĩa, hiếu đễ..", những điểm canh đều đặn...mất rồi. Bây giờ chỉ nhớ hình ảnh toàn thành những kẻ mặc áo giáp vàng bị dồn nén đến bất lực, vô vọng trước mũi xe tăng. Phải, những tấm khiên thép cao ngất với những lỗ hổng để chọc mũi giáo nhọn cứ từ từ nghiến nát xương thịt con người giáp vàng ấy không gọi là xe tăng thì gọi là gì? Thời khắc lặng lẽ, khi đoàn thái giám áo xanh kéo lê những xác chết lấm máu đi để tẩy rửa tất cả, bôi xoá tất cả...là thời khắc im lặng đáng kể nhất của phim.
Nhưng hoàng tử Nguyên Kiệt không chết lúc đó. Từ đầu đến giờ tớ có một điểm ngờ ngợ. Đó là hình như trong phim vắng bóng cái cao cả. Có, cũng có đấy nhưng nó không được khắc hoạ thành chủ điểm chính, không có mục đích đặt làm đối trọng với cái ác, cái tầm thường, cái đen tối. Nếu bảo là có thì chính là bởi chi tiết cái chết của Nguyên Kiệt - anh ta lựa chọn, lựa chọn cái chết; sau khi nói với Hoàng Đế rằng điều anh ta làm không phải vì quyền lực (cho dù sẽ đến thời của anh ta - anh ta là tuổi trẻ, là kẻ sẽ kế thừa của Hoàng Đế tất cả). Anh ta làm phản kháng là vì MẸ. Tớ không biết người Trung Hoa có gọi Tổ Quốc là Đất Mẹ như người Việt ta không, nhưng quả thực trong phim tớ thấy ở đây có gì đó không ổn. Nếu đơn thuần là Nguyên Kiệt sẽ được sắp xếp để chết, tự chết sau khi đã phản kháng vì MẸ, thì tại sao lại không có sự chuẩn bị nào cho cao trào này? Theo lý thì đáng nhẽ phải khắc hoạ đến cao độ cái tình mẹ con, cái tâm lý bi thiết cho kịch tính này chứ? Đằng này, tớ thấy trong cái chi tiết anh ta chọn cái Chết vì MẸ ấy có cái gì đó không_thoả_đáng. Chỉ cảm thấy vậy mà không chỉ ra được. Nên cảm giác xót thương đáng ra sẽ đến lạ cứ bị pha trộn thế nào ấy! Còn MẸ của anh ta thì chả biết sẽ thế nào - chỉ biết sẽ phản kháng và có thể chết.
Hết phim. Hết phim mà chả thấy xúc động gì. Chỉ nhoè nhoẹt là xủng xoảng phèng la. Chỉ thấy có cái gì đó không đáng, không thoả khi nhiều người chết đến vậy thôi. "Mãn Thành Đái Tận Hoàng Kim Giáp" - mãi mãi chỉ là giấc mơ ngông cuồng của những anh học trò thi hỏng mà thôi...
Cái tựa đề "Tàn đêm, có đom đóm bay ở mé đồng xa" này tớ vốn định dùng để viết phần vĩ thanh nhưng bây giờ...tàn hứng rồi nên thôi để lại đấy đã. Coi như loạt bài này còn nợ một phần nữa - cho tròn 100.
Thứ Năm, 3 tháng 5, 2007
Thu cúc xuân lan ninh dị địa. Thanh phong minh nguyệt bổn đồng thiên
"Thu cúc xuân lan ninh dị địa
Thanh phong minh nguyệt bổn đồng thiên"
(hoa cúc nở mùa thu, hoa lan nở mùa xuân là do thời tiết, chứ không phải do nơi đất đai khác nhau . Gió mát trăng thanh vốn cùng ở trong một bầu trời)
Hai câu thơ trên là của Triệu Chương Tuyền đời Tống (Luận Thi). Cuối loạt bài này tớ sẽ cẩn trọng ghi chú những link đã sử dụng không các bạn hiền lại nhầm tưởng tở bác cổ thông kim đến vậy :D Ở đây có cái ý này để nói: là thực ra con người ta vốn dĩ rất thích gán cho sự vật trong tự nhiên những ý nghĩa, khiến nó phải trở thành 1 biểu tượng và dần dà trở nên chỉ còn biết yêu cái biểu tượng đó mà lãng quên bản thân sự vật. Hoa cúc cũng chỉ là một loài hoa nở vào mùa thu (ở tàu, giờ HN bán đầy), tức là thích ứng với THỜI TIẾT thôi. Nhưng người ta đã gán cho nó rất nhều ý nghĩa rất hay. Nói chung chả vấn đề gì. Vì làm sao tách bạch và cố định mọi sự được. Hễ tách bạch là cằn cỗi ngay. Có điều xin cứ nói nguyên cả cụm "Hoa Cúc, biểu tượng của...bala...bala..." cho nó được minh định. Hình như người phương Tây gọi 1 thứ hoa như vậy là Daisy (theo em Cúc Hoa) và có nghĩa là 'mắt của ngày". Vài người thì cho nó là biểu tượng của tang tóc và rất kiêng kỵ trong việc tặng nhau thứ hoa này. Cũng tại vì họ Cúc có rất nhiều loại và mọi điều chưa hẳn đã mâu thuẫn nhau. Nhưng với thứ hoa cúc đại đoá vàng rực có hương thanh tao nở vào mùa thu kia thì đích thị là thứ hoa cúc của người Trung Hoa xưa rồi. Và, chính con người đã lồng tâm tình của mình vào thiên nhiên; trải rộng trên 1 miền rộng lớn để trở thành kinh nghiệm phổ biến và ở một xứ sở nào đó HOA CÚC từ 1 tượng trưng ngẫu phát của ai đó trở thành một tượng trưng phổ biến. Từ đó VĂN HOÁ vào cuộc với những quy luật của nó. Trùng trùng duyên khởi.
Nói đến những loài hoa quí, được nhân gian ưa chuộng nhiều, người ta thường nói đến bộ "tứ bình" (bức tranh treo ở bốn phía quanh nhà) , gồm có bốn loại hoa: Mai, Lan, Trúc, Cúc. Hoặc nói về "tứ quí" người ta muốn ám chỉ đến bốn loại cây cảnh : Tùng, Cúc, Trúc, Mai . Người xưa yêu hoa Cúc vì đó là loài hoa biểu lộ đặc tính : "diệp bất ly chi, hoa vô lạc địa", lá không rụng khỏi cành, hoa cũng chẳng lìa thân, dù héo rũ tàn khô, vẫn luôn bám lấy cành như người quân tử đầy chí khí suốt đời theo đuổi lý tưởng chân chính của mình.
Hoa Cúc biểu tượng cho tinh thần thanh cao của những kẻ sĩ muốn lánh xa vòng tục lụy . "Cúc ngạo hàn sương", cúc vẫn hiên ngang ngạo nghễ đâm hoa kết nhánh mặc cho sương tuyết lạnh giá bao trùm, mặc cho khí thời khắc nghiệt vây quanh, cúc vẫn mang nét điềm đạm ung dung, cúc vẫn vương mình đứng thẳng giữa phong trần, thách thức với bao nỗi đoạn trường gian truân của thế sự nhân tình:
Khai nhan diệu sắc kháng thu thâm
Cúc Đảm Ngạo Hàn Sương (Hải Đà)
(Hoa cười kiêu ngạo giữa sương lạnh, luôn giữ phong cách cao thượng
Mở mặt vui tươi màu sắc lộng lẫy như muốn thách thức thu già)
Người ta đi tìm ý nghĩa cho nhân sinh trong thiên nhiên - mặc cho rất có thể không có cái gọi là ý nghĩa ấy. Không có Tâm thì cũng chả có Cảnh.
"Diệp bất chi hoa, hoa vô lạc địa" - là cái cốt yếu của Cúc trong tâm tưởng người Trung Hoa. Và tất nhiên tớ cho rằng phải đợi có những thi nhân làm thơ trong ngày Trùng Cửu (Trùng Dương) rồi thì văn hoá Trung Hoa mới dày dặn nhiều trò đến như vậy.
Hoa rồi, bây giờ mình cùng nhau điểm qua chút ít về Kinh Kịch nhá.
KINH KỊCH: (Jingju), một loại hình hí khúc Trung Quốc, ra đời từ thế kỉ 18, bằng sự tổng hợp nhiều hình thức ca hát địa phương. Đầu thế kỉ 19, trở thành hình thức sân khấu cung đình chính thống và phát triển mạnh mẽ, chiếm vị trí hàng đầu và tiêu biểu cho loại hình hí khúc Trung Quốc. Do được hình thành từ lâu và tiếp thu nhiều tinh hoa của nghệ thuật hí khúc trước đó, KK đã đạt tới mức hoàn chỉnh và trở thành cổ điển, với một hệ thống trình thức biểu diễn nghiêm ngặt (tương tự như tuồng cổ Việt Nam), có ảnh hưởng đến các loại hình khác. Lúc biểu diễn các động tác đều mang tính ước lệ; điệu hát cơ bản là điệu xoang; hợp tấu có các nhạc cụ hồ, đàn nguyệt, đàn 3 giây, sáo, trống, thanh la, sênh, bạt. Có hơn 1.000 kịch bản truyền thống. KK đã từng được biểu diễn ở nhiều nước trên thế giới, được khán giả chú ý về tính độc đáo trong ngôn ngữ biểu diễn của diễn viên, tính ước lệ và nghệ thuật cách điệu.
Tớ hiểu biết về Kinh Kịch cũng hạn chế, nên chỉ bổ sung chi tiết này: là nghệ thuật hát và thưởng thức Kinh Kịch cũng từa tựa như Ca Trù của ta, tức là phải dùng hơi ở Đan Điền mà hát. Nên tiếng hát thể hiện nội khí rất rõ. Điệu bộ ước lệ lột tả THẦN THÁI của nhân vật. Đành rằng kịch là ước lệ, nhưng cũng như kịch Nô của Nhật Bản, với Kinh Kịch hầu như mọi thứ đều rất ước lệ. Giản lược và ước lệ. Ưu điểm của nó là gì thì sẽ để dịp khác học hỏi cao nhân rồi bàn rộng sau, ở đây góp với các bạn một đại ý: nghệ thuật và những thứ trừu tượng khác nói chung cốt nhắm vào chỗ đa nghĩa dành chỗ cho đối tượng của nó tham gia trải nghiệm. Cũng phải nghiên cứu thêm nhiều mới làm rõ được tại sao Kinh Kịch lại ăn sâu vào tâm tưởng người Trung Hoa đến thế trong khi ta mới nghe lần đầu chỉ thấy léo nhéo sốt ruột :D
Hệ thống quy ước về màu sắc, cử động, điệu bộ của Kinh Kịch rất nghiêm ngặt và tinh tế. Hiểu thêm chút ít về nó cũng như tư tưởng âm dương ngũ hành trong văn hoá nghệ thuật Trung Hoa sẽ rất hay để làm sáng tỏ nhiều yếu tố bất ngờ. Tớ học được điều này từ khi đọc cuốn GIẢI MÃ TRUYỆN TÂY DU KÝ của LÊ ANH DŨNG, các bạn có điều kiện thì tham khảo. Thôi, để phần sau tớ viết tiếp về Hệ biểu trưng của Kinh Kịch và âm dương ngũ hành. Đi làm nghĩa vụ quốc tế cái đã...
Thứ Tư, 2 tháng 5, 2007
Lộ hung tiển túc nhập triền lai
Mạt thổ đồ khôi tiếu mãn tai
Bất dụng thần tiên chân bí quyết
Trực giáo khô mộc phóng hoa khai
Chân trần bày ngực thẳng vào thành
Tô đất trét bùn nụ cười thanh
Bí quyết thần tiên đâu cần đến
Cây khô cũng khiến nở hoa lành
-----------
Đây là nói chuyện cảnh giới rất cao của THIỀN TÔNG là "Nhập triền thuỳ thủ" tức là "Thõng tay vào chợ" đấy. Đại ý cho rằng con người ta đã đạt đến chỗ tinh diệu vi tế thì có thể tuỳ nghi mà hành xử, thoạt trông như vụng dại, như thô thiển. Tớ viết lan man đến đây kể như đã đủ tư liệu để bắt tay vào bình bộ phim MÃN THÀNH ĐÁI TẬN HOÀNG KIM GIÁP của Trương Nghệ Mưu tiên sinh rồi, nhưng tớ muốn dừng lại một chút để tĩnh lặng và quên bớt những thứ vừa rồi đi đã. Nhưng xin cao hứng bốc phét mà tán rằng như tớ thấy thì quả thật tiên sinh đã đạt đến cảnh giới NHẬP TRIỀN THUỲ THỦ của "PHIM ĐẠO" rồi. Bái phục, bái phục!!! -------- Tí quên, chuyện Thiên An Môn và Triệu Tử Dương thì quá nổi tiếng rồi xin các bạn tự tra cứu nhé. Tớ sẽ chỉ nói theo kiểu "cứ như thể đang ở trong Trung Nam Hải ấy" thôi. À, nữa - mùa Thu ngày xưa còn là thời điểm triều đình sẽ đem các tử tù ra xử tội theo đúng luật của tự nhiên - mùa Thu là mùa âm tàng, gặt hái... Nghỉ, nghĩ tý đã...
Sơ nguyệt
Quang tế huyền sơ thướng
Ảnh tà luân vị an
Vi thăng cổ tái ngoại
Dĩ ẩn mộ vân đoan Hà Hán bất cải sắc
Quan sơn không tự hàn
Đình tiền hữu bạch lộ
Ám mãn cúc hoa đoàn
(Đỗ Phủ)
Trăng Non
Ánh mờ trăng mới nhú lên
Nghiêng nghiêng bóng đổ chênh vênh ráng trời
Dần lên cửa ải chơi vơi
Mây chiều núp bóng nửa vời xa xa
Nguyên màu một dãi ngân hà
Quan san giá lạnh buốt da khí thời
Thềm sân móc trắng sương rơi
Phủ đầy hoa cúc giữa trời mênh mang
(Hải Đà phỏng dịch)
Cúc hoa khai xứ tức trùng dương ...
"Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật,
Cúc hoa khai xứ tức trùng dương .."
"Rừng sâu không lịch năm cùng tận,
Biết tiết Trùng Dương cúc nở cười"
---------
Đây, link về hý kịch và kinh kịch đây: link
Trích 1 đoạn:
Mặt nạ Kinh kịch
Mặt nạ Kinh kịch là dùng các loại bột màu tô vẽ lên mặt diễn viên, để tượng trưng cho tính cách, phẩm chất, vận mệnh nhân vật. Thường thì, màu đỏ mang nghĩa bóng, tiêu biểu cho trung nghĩa dũng cảm; màu đen thuộc trung tính, tiêu biểu cho dũng mãnh và mưu trí; màu lam và màu xanh lá cây cũng thuộc trung tính, tiêu biểu cho anh hùng rơm; màu vàng và màu trắng phần lớn mang nghĩa đen, tiêu biểu cho hung ác và gian trá; màu vàng và màu bạc tiêu biểu cho thần bí và thần tiên yêu quái.
Nhân vật Kinh kịch
Trong Kinh kịch nói chung có bốn vai, đó là các vai Sinh, Đào, Tĩnh và Hài, các vai đó lại chia làm những vai càng cụ thể hơn.
“Sinh” chia làm : “ Lão sinh”—là chỉ những người đàn ông trung niên chín chắn, thường xuất hiện trong các vai chính diện hoặc nhà vua, tướng lĩnh. “Tiểu sinh”—là các vai thanh niên trai tráng.
“Đào” chia làm “Thanh Y” – chỉ các vai phụ nữ trung niên, thường là các phu nhân, tiểu thư trong gia đình quý tộc. “Võ Đào ” – chỉ các vai nữ có thể đấu võ. “Hoa Đào”—chỉ các vai nữ trẻ tuổi thuộc tầng lớp thấp hèn trong xã hội, như “a hoàn, con sen”,
“Tĩnh” là chỉ các nhân nhật mặt hoa, thường là vai những người đàn ông có tính cách, phẩm chất và diện mạo khác nhau.
“Mạt” cũng thuộc vai lão sinh, là những người có tuổi tác già lão, đầu óc mụ mẫm, sống trong tầng lớp thấp hèn trong xã hội. Bởi khi hóa trang vẽ một vệt trắng trên sống mũi, cho nên nhân vật này gọi là “Tiểu hoa mặt”, cùng song song với Đại hoa mặt, Nhị hoa mặt cho nên những nhân vật này thường được gọi là “Tam hoa mặt”.
“Hài” là chỉ Tiểu hoa mặt, phần lớn la ̀chỉ những người sống trong tầng lớp thấp trong xã hội, các nghĩa sĩ trong dân gian nhanh trí, hài hước.
Các nhân vật chính trong các truyện Tàu đều được mô tả qua màu sắc, điển hình trong truyện Thuyết Đường thuật chuyện các người anh hùng lo chuyện lật đổ nhà Tùy để lập nên nhà Đường với vị vua đầu tiên là Lý Thế Dân. Qua truyện đó, người đọc có thể để ý các hổ tướng được mô tả rõ rệt qua màu sắc và mạng lý theo Ngũ hành. Thí dụ, như Trình Giảo Kim mặt đỏ râu vàng, mặc áo giáp, đầu đội kim khôi - đặc biệt có hai mạng: khi trên ngựa mạng hỏa (mặt đỏ) và khi xuống ngựa, mạng Thổ (râu vàng); như La Thành, mặt trắng, mình ưa mặc bạch bào đoản giáp trắng, hay dùng cây Bát cổn Ngân thương bạc, cỡi ngựa Kim Thiên Lý Cu: đúng thật mạng Kim; như Đơn Hùng Tín, mặt xanh, chuyên mặc giáp xanh, hay dùng chiếc Kim đính Đông dương sóc, cưỡi con ngựa Thanh tông mã, rõ ràng mang mạng Mộc; Tần Thúc Bảo lại khác, mặt vàng, áo giáp bằng đồng vàng, hay dùng đôi giản đồng và cưỡi ngựa có lông vàng như tơ, đích thị mạng Thổ; và Uất Trì Cung gốc thợ rèn, mặt đen, mặc thiết giáp bằng đồng đen, ra trận dùng ngựa ô tuyền, đúng là mạng Thủy. Quyển Cờ Bạc đưa một vài thí dụ chứng minh rằng các tác giả người Trung Quốc xưa và nay lúc nào cũng áp dụng thuyết ngũ hành (mạng này khắc mạng kia) trong các trận đánh với nhau. Khuôn khổ bài này có hạn nên chỉ xin trích lại một đoạn tả trận chiến giữa tướng Dương Lâm của nhà Tùy đấu với bên nhà Đường. Bên nhà Tùy ngoài tướng Dương Lâm còn có Thập Nhị Thái bảo lập ra trận Nhất tự trường xà - toàn treo cờ xanh (mạng Mộc). Bên Đường có Trình Giảo Kim và Tần Thúc Bảo - cả hai mang mạng hỏa và Thổ - đánh hoài nhưng không sao phá nổi trận. Sau nhờ có La Thành - mang mạng Kim - chỉ đấu với tướng Dương Lâm có 10 hiệp, đâm Dương Lâm một thương ngay tại mông, phá tan trận và thu được hơn hai muôn hàng binh của nhà Tùy. Kim khắc Mộc là như vậy. Tóm lại khi đọc truyện Tàu ta nên để ý trước bổn mạng của các nhân vật rồi sẽ xem họ đấm đá đấu chưởng với nhau ra làm sao. Hằng trăm trận ăn thua hay sống chết với nhau thường dựa sát vào những tương sinh tương khắc của luật ngũ hành mà thôi. Thí dụ một cao thủ võ lâm mặt đỏ, cỡi ngựa màu đỏ (xích thố), mang kiếm giáp màu đỏ (mạng Hỏa) chạy ngựa hay phi thân xuống núi đánh với một nhân vật võ lâm khác, cho dù đó là một bà lão mặt đen mặc quần áo màu đen (mạng Thủy), người đọc sành điệu luật ngũ hành có thể đoán được rằng tác giả sẽ cho cao thủ từ trên núi xuống kia thế nào cũng sẽ bị thua chạy dài, nếu không bị chém đứt đầu thì cũng bị thương nặng tàn phế võ công!!
Phép này áp dụng cho hiện đại không linh lắm nhưng nhiều khi cũng rất nhiệm mầu :) Tớ sẽ thử lấy chính bộ phim HOÀNG KIM GIÁP để thử sau này. Kể ra, trước đây cũng có lần tớ viết qua loa về Ngũ hành rồi đấy. Bây giờ trích giới thiệu thêm với các bạn về tính cách của ngũ hành (nguồn như đoạn trên).
- Mạng Kim: có đầu óc tổ chức, thích ở trong thế chủ động và lãnh đạo, cần cho rằng mình đúng, thích trật tự và sạch sẽ.
- Mạng Thủy: giàu tưởng tượng, trung hậu, thông minh, rất “cứng cựa”, độc lập, kín đáo, . . .
- Mạng Hỏa: giàu tình người, nhiều trực giác, thích được thương yêu, thích sôi nổi, giao tế giỏi, . . .
- Mạng Thổ: rất chừng mực, hài hoà, trung thành và đòi hỏi trung thành, thích chi tiết, thích bầu bạn nhưng có thể rất cứng đầu.
- Mạng Mộc: vui tính, có mục đích, năng động, thích bận rộn, có thể rất hách xì xằng, thực tế, hiếu thắng, . . .
Thứ Ba, 1 tháng 5, 2007
Thợ nào thua thì về bú tí...
Thợ nào được thì ăn cơm vua
Thợ nào thua thì về bú tí...
Triệu Khuông Dẫn tuy ngừa được cái hoạ phản thần nhưng rốt cuộc không ngăn nổi cái hoạ từ trong nhà với hoàng đệ cùng bú 1 tí là Triệu Quang Nghĩa (Tống Thái Tôn) kia. Rốt cuộc, logic của lịch sử là một logic khác, chẳng bàn hết được ở đây.
Thôi, quay trở lại với Tết Trùng Cửu. Chuyện này cũng có thể dài lan man rộng lớn vô kể. Đó là bởi vì muốn tỏ ngọn nguồn thì bạn phải cùng tớ vạch lá tìm sâu, kê đơn bốc thuốc hòng thoát ra khỏi căn bệnh hoa mắt chóng mặt mỗi khi nhìn thấy chữ Nho, mỗi khi nghe loáng thoáng những "sinh sinh chi dịch", "âm dương ngũ hành"...bala...bala...đi. Tốt nhất bạn tìm mấy cuốn sách của Hồ Thích như "Lịch sử logic học thời Tiên Tần", "Lịch sử tư tưởng TQ thời trung cổ", "Trung Quốc triết học sử đại cương"...rồi châm chước đi cho rõ đại ý. Vì sao lại cần phải như vậy? Là bởi vì truyền thống Trung Hoa hổng có biết tới bản quyền nên cái nạn nguỵ thư không sao ngăn được. Người Trung Hoa lại dễ tính ngang với người Ấn Độ trong việc dung nạp các thức để chế món tả pí lù là "Cổ học tinh hoa". Bách thần với người Ấn đều là hoá thân của Vishnu hết. Vậy là xong. Mọi học thuyết, trường phái của Trung Hoa đều tan biến trong nồi kê "Tam giáo đồng nguyên" hết ráo! Nhưng nói vậy chứ cũng phải có ngọn nguồn nhất định - ít nhất đủ để chúng ta phân biệt thời Tử học và thời Kinh học trong sử Tàu. Theo Hồ lão gia thì những học thuyết Âm Dương Ngũ Hành vốn có xuất xứ từ nước Tề thời Chiến Quốc-thời mà phương sỹ, biện giả nhao nhao đua tiếng đã được hình thành và phát triển thế nào, sau đó đến thời đế quốc Hán chuyên chế thế nào mà tự nhiên chả cần triết lý, học thuật nữa, dưới ảnh hưởng của Đậu Thái Hậu xuất thân con buôn đem cái phong khí mê tín "cơ tường hoạ hại" vào triều đình và đạt đến cực thịnh dưới thời Vũ Đế ra sao. Người đời chỉ biết Đổng Trọng Thư có công sắp xếp ra cái Hán Nho mà ít biết họ Đổng 1 tay dựng lên cái TƯỢNG SỐ LUẬN hão huyền mà ngay Vũ Đế cũng suýt có lần cho chém vì tội phán lung tung vận mệnh thiên hạ.
Rồi những chuyện thời Đường Mạt Phật suy Nho, Lão thịnh hành ra sao cũng nên đọc qua hết một lượt. Chỉ nói gọn lại một câu là: từ thời Kinh học đổ về sau thì cái tinh thần bất uý của Chư Tử đã cạn kiệt mà tư tưởng Trung Hoa trở thành một đống hổ lốn hồ đồ ai muốn phán thế nào thì phán...Kêu ca kể lể nãy giờ vốn cốt để minh bạch một điều là đọc sách Tàu phải biện biệt được chân nguỵ, hoặc như ít nhất cũng đủ biết lời-là-nói-với-ai, lúc-nào?
Về Tết Trùng Cửu, tức là ngày Tết 9-9 âm lịch hàng năm có sự tích như thế này:
Có nhiều điển tích về ngày Tết này:
- Đời Hậu Hán (25-250) có Hoàng Cảnh, người huyện Nhữ Nam, theo học đạo tiên với Phí Trường Phòng. Một hôm Trường Phòng bảo cảnh:" Ngày mồng 9 tháng 9 tới đây, gia đình của nhà ngươi gặp phải tai nạn. Vậy đến ngày đó, ngươi nên đem cả nhà lên núi cao, tay đeo túi đỏ, đựng hột thù du (một loại tiêu), uống rượu hoa cúc, tối sẽ trở về, may ra tránh khỏi tai nạn". Hoàng Cảnh vâng theo lời thầy. Quả thực đến tối trở về thì thấy gà vịt heo chó trong nhà bị dịch chết hết.
Vì tích trên, nên về sau hằng năm, đến ngày mồng 9 tháng 9, người ta bỏ nhà tạm lên núi, lánh nạn... Lâu đời thành tục gọi là Tết Trùng Cửu. Sau dần thay đổi tính chất, Tết Trùng Cửu lại dành riêng cho tao nhân mặc khách lên núi uống rượu làm thơ.
- Sách "Phong Thổ Ký" lại chép: Cuối đời nhà Hạ (2205-1818 trước D.L.), vua Kiệt dâm bạo tàn ác, Thượng Đế muốn răn nhà vua nên giáng một trận thủy tai làm nhà cửa khắp nơi bị chìm xuống biển nước, nhân dân chết đuối, thây nổi đầy sông. Nạn thủy tai đó nhằm ngày mồng 9 tháng 9. Vì vậy mỗi năm đến ngày này, nhân dân lo sợ, già trẻ gái trai đều đua nhau quảy thực phẩm lên núi cao để lánh nạn... Tục ấy thành lệ.
Đến đời Hán Văn Đế (176-156 trước D.L.), vua cho dựng một đài cao 30 trượng ở trong cung, mỗi năm đến ngày mồng 9 tháng 9, nhà vua cùng vương hậu, vương tử, cung phi đem nhau lên đài ở cho qua hết ngày ấy. Sau đến đời nhà Đường (618-907), ngày mồng 9 tháng 9 thành ngày lễ tết gọi là Trùng Cửu. Các văn nhân thi sĩ mang bầu rượu túi thơ cùng nhau lên núi cao say sưa ngâm vịnh.
Cổ thi có câu: "Gặp ngày Trùng Cửu đăng cao". "Đăng cao" là lên chỗ cao. "Trùng cửu" và "Đăng cao" đều do điển tích trên.
Trên là chép ở Wikipedia ra. Có thể thấy ngay qua những câu chuyện đáng ngờ kia cái triết lý của Lão giáo (của Trương Đạo Lăng không phải Đạo của Lão Tử) qua vài lần xào nấu tức là gồm cả cái TƯỢNG SỐ LUẬN đời Hán vào trong câu chuyện có tính tượng trưng kia. Theo đó, các con số lẻ 1,3,5,7,9 là thuộc dương mà số 9 với số 7 là hai số thành của dương, 9 được gọi là lão dương (Hệ từ thượng truyện, chương 9). Cũng theo như cái thuyết CỰC TẮC PHẢN của DƯƠNG HÙNG tiên sinh kia rồi thì người Tàu rất trọng việc theo dõi các tiết trong năm, theo chu kỳ của trời đất mà đặt ra các mốc nửa theo TƯỢNG SỐ LUẬN nửa theo THỜI TIẾT mà đặt ra các ngày như 3-3, 5-5, 7-7, 9-9, 10-10...trong đó 9-9 là vào TIẾT THU được coi là DƯƠNG KHÍ đã đến cực điểm bắt đầu chuyển sang thời của âm tàng. (Cũng vì vậy mà 10-10 được coi là ngày cực thịnh của âm khí để thu hoạch các vị thuốc, ngày này là ngày của các thầy lang Đông y). Dưới ánh sáng của Dương Hùng lão gia thì tự nhiên câu chuyện sự tích Hoàng Cảnh lên núi vào ngày 9-9 trở lên rất sáng tỏ. Đó là thứ triết lý TƯỢNG SỐ LUẬN kết hợp triết lý PHẢN PHỤC, QUY PHÁC thô sơ của Trương Đạo Lăng (chế biến từ Lão tử tôn sư). Rằng con người ta cũng như vạn sự có Sinh, Thành, Hoại, Diệt; nếu biết quy phác trở về với TỰ NHIÊN thì còn may giữ trọn được SINH MỆNH (học lóm thêm chút ít DƯỠNG SINH CHỦ của Nam Hoa tiên sinh). Cái triết lý thu tàng này càng trở nên cực thịnh vào đời Nam-Bắc triều lần thứ nhất (thời của Đào Tiềm) khi mà loạn lạc liên miên khiến con người ta chỉ còn biết cầu mong sống trọn cái sinh mệnh của mình mà thôi.Mùa Thu cũng là mùa người Trung Hoa xứ lạnh bắt đầu quây quần trong làng chờ Đông qua Xuân tới. Cũng từ lâu Thu là lúc người ta nghĩ đến sự ly cách nhiều nhất. Vì vậy, lẽ tự nhiên ngày Trùng Cửu 9-9 trở thành ngày lễ của sự đoàn tụ gia đình, ngày lễ của ước mong bảo tồn SINH MỆNH con người cùng với những thứ thiết thân nhất họ có trong tay (Lục Thân: cha mẹ, vợ chồng, anh em, con cháu, bạn bè...).
Và HOA CÚC cũng là tự nhiên nhi nhiên trở thành biểu tượng của mùa Thu nói chung và ngày TRÙNG CỬU nói riêng.
Cửu Nhật Ngũ Thủ, Tuyển Nhứt
Trùng dương độc chước bôi trung tửu
Bảo bệnh khởi đăng giang thượng đài
Trúc diệp vu nhân kí vô phận
Cúc hoa tòng thử bất tu khai
Thù phương nhật lạc huyền viên khốc
Cố quốc sương tiền bạch nhạn lai
Đệ muội tiêu điều các hà tại
Can qua suy tạ lưỡng tương thôi
(Đỗ Phủ)
Ngày Chín, Năm Bài Lựa Một
Trùng dương, rượu trút, một mình ta
Khổ bệnh, sông dài, dấn bước qua
Lá trúc cùng người than phận lỡ
Cúc vàng thuở đó chẳng đơm hoa
Tha phương vượn khóc tà dương xế
Quê cũ nhạn về sương sớm sa
Em gái phương nào thân tá túc ?
Bệnh căn, loạn lạc, nhiễu phiền ta
(Hải Đà dịch)
Tha niên ngã nhược vi Thanh đế
2 câu thơ trong bài "Đề cúc hoa"
Tha niên ngã nhược vi Thanh đế
Báo dữ đào hoa nhất xứ khai
mà lại dịch thành
Chúa Xuân nếu được là ta
Sang năm ta bảo đào hoa nở cùng
thì coi như hả hết cái hơi "nghịch tặc" của họ Hoàng rồi. "Sang năm nếu mà ta đây làm Chúa Xuân" - có hẹn hò hẳn hoi chứ không phải câu không có thật ở thì hiện tại đâu! Bây giờ hẵng cùng nhau lan man tý về lịch sử Tàu từ Đường đến Hậu Đường cho nhàu nhĩ tâm trạng cùng nhau làm người Trung Hoa 1 phen xem có thêm tý cảm khái nào cho phim không đã.
Sử Trung Quốc - NHL: Cuộc khởi nghĩa lớn nhất của nông dân đời Đường xảy ra năm 875, một năm sau bài chiếu của Hi tôn.
Một nông dân, Vương Chi Tiên, lãnh đạo 1.000 dân, nổi loạn ở Hà Bắc, một miền rất giàu ngũ cốc. Vương được Hoàng Sào giúp sức. Hoàng thi tiến sĩ rớt, làm nghề buôn muối, rất giàu, viết văn hay (thảo hịch mạt sát bọn hoạn quan), ăn nói nhã nhặn, cưỡi ngựa giỏi mà múa gươm cũng rất khéo, rất ghét bọn quan liêu và giới sĩ tộc, được nông dân quí mến. Vương và Sào đều có tài tổ chức, chẳng bao lâu làm chủ miền Đông Hoa Bắc. Mấy tiết độ sứ chống lại họ không nổi vì quân lính có cảm tình với nghĩa quân, không ham chiến đấu. Triều đình lại phải nhờ rợ Sa Đà dẹp hộ. Sa Đà thắng, Vương bị chém. Hoàng Sào lên cầm đầu nghĩa quân, đưa họ xuống phương Nam, năm 879 chiếm được Quảng Châu, đốt thị trấn đó. Theo tải liệu của Ả Rập, có tới 12 vạn ngoại nhân chết trong vụ đó. Nghĩa quân trở lên phương Bắc với nhiều chiến lợi phẩm, lại bị quân Sa Đà chặn ở phía Nam sông Dương Tử. Nhưng ít lâu sau Hoàng Sào lại tiến lên Bắc, chiếm được Lạc Dương (880). Vua Hi tôn bỏ kinh đô, trốn vào Tứ Xuyên, Hoàng Sào bèn chiếm nốt Tràng An, lên ngôi Hoàng đế, quốc hiệu là Đại Tề. Lần đó là lần đầu tiên một phong trào nông dân do một thương nhân có học lãnh đạo thắng được giới sĩ tộc đại quan liêu, đại địa chủ.
Hi tôn lại phải cầu cứu với Sa Đà, do một tướng cũng là Sa Đà chỉ huy. Tướng đó có tài, trung với Hi tôn, được Hi tôn đặt tên cho là Lí Khắc Dụng. Khắc Dụng tấn công Tràng An, Hoàng Sào cầm cự được ít lâu, năm 883 thua, bị Sa Đà bắt được, giết. Vậy là cuộc khởi nghĩa của quân nổi dậy đó kéo dài được non 10 năm, khi dẹp được thì Đông đô Lạc Dương chỉ còn trên 100 hộ (mỗi hộ trung bình là 5 người).
Hoàng Sào bị bộ tướng là Chu Toàn Trung làm phản. Chu Toàn Trung nguyên tên là Chu Ôn, tên Toàn Trung là do vua Đường đặt cho vì có công dẹp loạn. Nhưng Toàn Trung lại không trung, phế nhà Đường lập ra nhà Hậu Lương.
Sử Trung Quốc - NHL:Hậu Lương Chu Toàn Trung giết Chiêu Tôn rồi chiếm ngôi nhà Đường, đổi quốc hiệu là Hậu Lương, đóng đô ở Khai Phong ngày nay. Ông ta gốc nông dân, trưóc theo Hoàng Sào, khi lên ngôi cũng muốn cải thiện đời sống của nông dân, giảm thuế, khuyết khích nông nghiệp, nhưng ở ngoài phải chống với Lý Khắc Dụng, một tướng Sa Đà, ở trong không được giới sĩ tộc ủng hộ, còn bọn tay chân của ông toàn là tướng cướp , tranh quyền với nhau, chỉ muốn vơ vét cho thật mau, nên tình hình rối loạn. Năm 912, chính một người con của ông giết ông để chiếm ngôi, từ đó bọn thủ hạ của ông chán nản, biết rằng triều Hậu Lương không tồn tại được lâu, kéo nhau qua phía Lý Khác Dụng và năm 923, nhà Hậu Lương bị Lý Tồn Húc, con Lý Khắc Dụng diệt, trước sau được hai đời vua, cộng là 17 năm.
Hậu Đường Lý Tồn Húc , gốc Sa Đà, lên ngôi dời Đô về Lạc Dương, đổi quốc hiệu là Đường. Triều chính ở trong tay giới sĩ tộc Hán, vì người Sa Đà rất ít, không được 100.000, mà còn lạc hậu, không đáng kể về phương diện chính trị. Họ coi việc nước như việc nhà, muốn giao hết những chức vụ quan trọng cho bà con họ hàng, nhưng số này không đủ, đành phải giao cả những võ chức cho ngoại nhân, bất kỳ là giống người nào, còn những chức vụ hành chánh thì giao cho người Hán. Họ đặt ra đủ các thứ thuế, bóp nặn nông dân đến khánh kiệt mà vẫn không đủ nuôi lính Hậu Đường truyền được bốn đời, mười ba năm, rồi bị Thạch Kính Đưòng diệt.
Hậu Tấn Thạch Kính Đường cũng là giống Sa Đà, vốn là phò mã nhà Hậu Đường, làm trấn thủ Hà Đông, nhờ rợ Khiết Đan giúp sức mới lên ngôi được, vì vậy phải cắt cho Khiết Đan vài tỉnh ở phía Bắc.
Khiết Đan ( kitat) là một rợ ở Đông Bắc Trung Hoa, tổ tiên là rợ Tiên Ti, sau khi bị một rợ đánh thua, trốn lên ở đất Nhiệt Hà ngày nay, thân phục nhà Đường. Cuối đởi Đường, Khiết Đan mạnh lên, thôn tính các bộ lạc chung quanh, chiếm cả đất Nhiệt Hà và Đông Tam Tỉnh. Một thủ lãnh của họ có hùng lược, dùng người Hán để chỉnh đốn nội chính, dựng thành quách, lập chợ búa, khai khẩn đất đai. Thạch Kính Đường đời Ngũ Đại nhờ họ đem đại quân giúp để lật Hậu Đường, và để trả ơn, cắt đất Yên và Vân ( Hà Bắc, Sơn Tây) cho họ, họ thành một cường quốc ở cõi Bắc, đổi quốc hiệu là Liêu, thành mối lo cho nhà Tống sau này.
Thạch Kính Đường đổi quốc hiệu là Tấn, đất đai thu hẹp , số thuế thu được giảm đi, mà phải nộp cống cho khiết Đan, thờ Khiết Đan như cha, do đó phải tăng thuế, dùng chính sách bạo ngược đối với dân. Khiết Đan thấy vậy mưu tính việc chiếm trọn miền Bắc. Giới quý tộc Sa Đà có một nhóm thấy nguy cơ, muốn tấn công Khiết Đan trước, triều đình do dự. trong khi đó, nhiều viên tướng ở miền Đông làm phản, qua phía Khiết Đan và chỉ trong hai năm ( 946 - 947) Khiết Đan chiếm được kinh đô và gần hết miền Bắc. Viên thủ lãnh Khiết Đan vô kinh đô, tự xưng là " Hoàng Đế Khiết Đan và Trung Hoa" ( Nhà hậu Tấn chấm dứt, sau hai đời vua , cộng 11 năm.) Giới sĩ tộc Trung Hoa thản nhiên trước sự đổi ngôi đó, làm quan cho Sa Đà hay cho Khiết Đan thì cũng vậy, nhưng Sa Đà có một nhóm không chịu thần phục Khiết Đan, chống lại.
Thời đại đó là như vậy. Mà nói chung vấn đề chỉ là dài ngắn khác nhau chứ thời đại nào triều đại nào mà chả có cảnh vua tôi cha con giết lẫn nhau, phản trắc tráo trở. Bởi lẽ đơn giản logic của lịch sử vốn khác.
Tên 3 hoàng tử trong phim cũng có cái ý của nó: Nguyên Tường, Nguyên Kiệt, Nguyên Thành. Chả hiểu sao có người đọc phiên âm hoàng tử thứ hai thành Jai, có giống gì với Lý Thế Dân không nhưng tự chuyện này cũng có ý gợi cho người ta nghĩ đến câu chuyện thời lập quốc của nhà Đường hùng mạnh thuở nào. Nhà Đường được dựng lên từ một đám tro tàn kiệt quệ của thời Nam Bắc triều cũng đầy rẫy phản trắc loạn lạc như thể lịch sử chỉ là 1 vòng lặp lại. Vua Đường Thái Tổ cũng có 3 con trai.
Sử Trung Quốc - NHL: Bi kịch giành ngôi Dựng nên nhà Đường, thống nhất giang sơn là công của Thế Dân. Thái tử Kiến Thành và Tề Vương Nguyên Cát thấy cha quí Thế Dân và các tướng đều kính trọng, tuân lệnh Thế Dân, sinh lòng ghen ghét, sợ Thế Dân sẽ giành ngôi của Kiến Thành, nên ton hót với một ái phi của Cao Tổ (Lí Uyên), vu cho Thế Dân tội này tội nọ; hơn nữa, họ đã 2 lần mưu sát Thế Dân mà thất bại (một lần đầu độc trong một bữa tiệc, nhưng Thế Dân chỉ thổ ra máu mà không chết). Họ tính mưu sát lần nữa, Thế Dân biết được, phải ra tay trước, cùng với Uất Trì Kính Đức núp trong vườn cấm sau cung, đợi sáng sớm Kiến Thành và Nguyên Cát vào chầu mà bắn chết. Cao Tổ hay tin ghê gớm đó chỉ lẩm bẩm: “Ta có ngờ đâu tới nông nổi này. Phải làm gì bây giờ?”. Chính ông ta do dự, nhu nhược, biết bụng dạ xấu của Kiến Thành mà không ngăn được nên xảy ra bi kịch ấy. Đó là nhược điểm của chế độ quân chủ phương Đông: hầu hết ông nào cũng nhiều con, và rất ít ông sáng suốt lựa được người giỏi để truyền ngôi, thành thử con thường tranh ngôi với nhau.
Vụ đó là một vết đen trong đời Thế Dân. Chẳng những anh và em ông bị ông giết, mà theo lệ, cả 5 đứa con trai của anh và 5 đứa con trai của em cũng bị xử tử nữa, sợ sau này chúng trả thù cho cha!
(cont)
Thứ Hai, 30 tháng 4, 2007
Thợ nào được thì ăn cơm vua...
“Xã hội thời đó là một xã hội mạo hiểm, đầy những chiến đấu gan dạ và những cuộc chinh phạt phiêu lưu... Người ta coi vận mạng như cuộc đỏ đen trong một canh bạc lớn mà đấu mưu đấu trí với nhau.”
Lâm Ngữ Đường bàn về thời lập quốc của nhà Đường như vậy; nhưng há chỉ có thời đó thôi hay lịch sử luôn luôn là như vậy ở mỗi khúc quanh? Gắn luôn chuyện này với chuyện nhân gian thường oán các vua khai quốc xưng đế thường giết trung thần. Nhưng thử hỏi không giết có được không? Mấy ai được như Triệu Khuông Dẫn nhưng họ Triệu có được nhân hoà ấy còn do cái Thiên Thời "cực tắc phản" của thiên hạ đã loạn lạc hơn trăm năm rồi.
Sử Trung Quốc-NHl: Củng cố nội bộ Thu quyền chính trị về trung ương. Triệu Khuông Dẫn đã tỏ ra thực tế, biết sức mình khi ông tạm " tha cho Bắc Hán". Khi đã chiếm được Nam Hán, những nước còn lại xin thuần phục rồi, ông lại tỏ ra thành thực, mà khéo léo, biết tâm ý các người đã cộng tác với ông, đặt một tiệc rượu mời Thạch Thủ Tín và Trương Thầm Kỳ, nửa tiệc ông đuổi tả hữu ra ngoài, nói với hai viên tướng đó: "Làm thiên tử khó khăn, chứ không vui sướng như tiết độ sứ. Trẫm thường ăn ngủ không yên. Thủ Tín hỏi vì sao, ông đáp: "Ngôi cao quý này ai mà không muốn?" Thủ Tín cúi đầu tâu: "Bệ hạ sao lại nghĩ thế? Mạng trời đã định, ai còn dám hai lòng?" Ông nói: "Hai khanh thì cố nhiên, còn bọn thủ hạ ai mà không ham phú quý? Một ngày kia, họ đem hoàng bào mặc vào cho khanh, khanh không muốn có được không?.....Trẫm muốn tình thân giữa chúng ta còn hoài để còn hưởng phú quý như bây giờ. Muốn vậy thì binh quyền của các khanh phải trở về quốc gia....Như vậy mới không còn lòng nghi ngờ lẫn nhau nữa." Thế là các tiết độ sứ xin từ chức, giải trừ binh pháp hết. Để bù lại, ông tặng họ chức cao, bổng hậu trong hành chánh.
Bỏ sự các cứ của phiên trấn, giải nhiệm các tiết độ sứ, rồi ông đặt chức phán quan (văn quan) thay vào, chức đó coi cả việc quân chính và dân chính, nhưng việc gì cũng phải tâu về triều đình, lại đặt ra chức Chuyển vận sứ trông nom về tài chính, số thu được bao nhiêu, trừ số chi tiêu trong châu quận rồi phải nộp về triều đình, ông cũng hạn chế quyền hành pháp của các châu quận, bắt phải phúc trình lên bộ Hình xét, chứ không được tự ý xử tử bất kỳ ai.
Biện pháp hay nhưng chỉ sau 2 đời nữa là lại thấy mặt trái của vấn đề nổi lên mà hậu quả Tống triều là một triều đại yếu nhược bậc nhất của Trung Hoa.
"Thợ nào được thì ăn cơm vua
Thợ nào thua thì về bú tí..."
Thôi không lan man chuyện tranh giành được thua nữa vì cũng không thể nói ngắn gọn được vấn đề mà không khỏi nông cạn. Dẫn lại ở đây một chút ý nghĩa về chính trị theo Vũ Tài Lục trong THỦ ĐOẠN CHÍNH TRỊ để tham khảo. No comment.
Ý nghĩa của chính trị
Ai muốn nói sao thì nói, chính trị chỉ có một sự thật và mỗi hiện tượng chính trị đều phải quy hết vào sự thực đó hoặc từ đó mà nẩy sinh ra.
Sự thực là:
- Chính trị là hết thảy những hành động nhằm duy trì mở rộng và tranh đọat quyền lực.
- Chính trị hoàn toàn chịu chi phối bởi quy luật khách quan của xã hội, sự cần thiết của lịch sử. Nó không phải là đạo đức hay lý tưởng.
- Đấu tranh chính trị là đấu tranh giữa kẻ thống trị và kẻ bị trị, giữa kẻ có địa vị và kẻ mất quyền lợi. Hết thảy danh nghĩa tốt đẹp chỉ là sự cần thiết từng giai đoạn hoặc là những hình thức ngụy trang.
- Phương tiện dùng cho đấu tranh chính trị là bạo lực và mưu mẹo.
- Kẻ nào có quyền, kẻ ấy cai trị, kẻ nào cai trị, kẻ ấy có lý do chính đáng. (He who has authority, governs; he who governs, is right).
...........
Sinh làm hào kiệt trong đời, phải làm gì khi không được chọn lựa?
Tiếu ngạo hàn sương phô cốt cách
Khai nhan diệu sắc kháng thu thâm
Cúc Đảm Ngạo Hàn Sương (Hải Đà)
(Hoa cười kiêu ngạo giữa sương lạnh, luôn giữ phong cách cao thượng
Mở mặt vui tươi màu sắc lộng lẫy như muốn thách thức thu già)