Hiển thị các bài đăng có nhãn tương_tri. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tương_tri. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 27 tháng 9, 2007

Đối thoại








Kinh Kha là người nước Vệ, tổ tiên là người nước Tề.Kinh Kha di cư sang Vệ, người Vệ gọi là Khánh Khanh(6). Sau đó sang nước Yên, người nước Yên gọi là Kinh Khanh.Kinh Khanh thích đọc sách, đánh gươm, đem kiếm thuật nói với Vệ Nguyên Quân. Vệ Nguyên Quân không dùng.







Sau đó Tần đánh Ngụy (năm 242 trước Công nguyên) đặt Đông Quận, dời họ hàng Vệ Nguyên Quân đến đất Dã Vương. Kinh Kha có lần qua chơi đất Du Thứ, bàn kiếm thuật với Cáp Nhiếp. Cáp Nhiếp giận, trợn mắt nhìn Kinh Kha đi ra. Có người nói muốn mời Kinh Kha, Cáp Nhiếp nói:





- Lúc nãy ta bàn kiếm thuật với hắn. Có chỗ không vừa ý ta trợn mắt nhìn hắn. Thử đi mà xem, chắc hắn đi rồi không dám ở lại nữa.







Sai người đến nhà trọ thì Kinh Khanh đã đi xe ngựa rời khỏi đất Du Thứ rồi. Người này về báo, Cáp Nhiếp nói:





- Cố nhiên là hắn đi? Lúc nãy ta vừa lấy mắt dọa hắn.







Kinh Kha đi chơi đến Hàm Đan. Lỗ Câu Tiễn cùng Kinh Kha đánh cờ, tranh nhau nước cờ. Lỗ Câu Tiễn giận mắng, Kinh Kha im lặng trốn đi, sau đó không gặp nhau nữa (7)







Sau khi Kinh Kha đã đến Yên, làm bạn với người bán thịt chó và người giỏi gẩy đàn trúc(8) tên là Cao Tiệm Ly.Kinh Kha thích uống rượu, ngày ngày cùng anh bán thịt chó và Cao Tiệm Ly uống rượu ở chợ nước Yên. Sau khi chén rượu dở say, Cao Tiệm Ly gẩy đàn trúc, Kinh Kha họa theo mà hát vui với nhau ở giữa chợ. Sau đó lại cùng nhau khóc,xem như bên cạnh không có người(9), Kinh Kha tuy ở trong bọn bợm rượu, nhưng tính tình thâm trầm, thích đọc sách,khi du lịch các nước chư hầu, đến đâu cũng kết bạn với tất cả những người hiền, trưởng giả ở đấy. Khi sang nước Yên, xử sĩ nước Yên là Điền Quang tiên sinh cũng trọng đãi vì biết rằng Kha không phải là người tầm thường.Được ít lâu gặp lúc thái tử nước Yên là Đan làm con tin ở Tần trốn về. Thái tử Đan nước Yên đã có lần làm con tin ở Triệu mà vua Tần tên là Chính lại sinh ở Triệu, lúc nhỏ vẫn chơi thân với Đan. Đến khi Chính được lập làm vua, Đan làm con tin ở Tần, vì vua Tần đối đãi với thái tử Đan không tử tế cho nên Đan giận trốn về. Đan về tìm cách báo thù vua Tần, nhưng nước nhỏ, sức không làm nổi. Sau đó ngày ngày Tần đem binh ra miền Sơn Đông để đánh các nước Tề, Sở,Tam Tấn, dần dần tiêu diệt chư hầu như tằm ăn lá dâu, sắp đến nước Yên. Vua tôi nước Yên đều sợ họa sắp đến nơi. Thái tử Đan lo lắng hỏi thầy học là Cúc Võ. Cúc Võ nói:





- Đất nước Tần bao khắp thiên hạ, uy hiếp các nước Hàn, Ngụy , Triệu, phía Bắc có Cam Tuyền, Cốc Khẩu là nơi hiểm trở, phía Nam có đất bên sông Kinh, sông Vị là nơi mầu mỡ, chiếm nguồn lợi đất Ba, đất Hán, bên phải có dãy núi đất Lũng, đất Thục, bên trái có nơi hiểm trở như Hàm Cốc quan, Hào Sơn. Dân đã đông, quân lại mạnh, khí giới có thừa. Nếu họ muốn đem quân ra thì từ Trường Thành xuống phía Nam, từ Dịch Thủy lên phía Bắc (lo) chưa biết ra sao!Tại sao chỉ vì cái oán bị khinh rẻ mà thái tử lại muốn động chạm đến cái vẩy ngược của con rồng(11) như thế?





Đan nói:





- Vậy thì làm sao?





- Việc ấy xin suy nghĩ cho sâu.







Được ít lâu tướng Tần là Phàn Ư Kỳ có tội với vua Tần, chạy trốn sang Yên, thái tử dung nạp cho ở. Cúc Võ can:





- Không được! Nước Tần đã mạnh lại căm giận nước Yên, như thế cũng đủ đáng sợ lắm rồi. Huống chi nó lại nghe Phàn tướng quân ở đây. Như thế tức là “Ném thịt ra giữa lối đi của hùm đói”, cái tai vạ ấy không thể cứu được đâu! Tuy có Quản Trọng, Án Anh(12) cũng không thể bày mưu cho ta. Thái tử phải mau mau cho Phàn tướng quân vào đất Hung Nô để khỏi tai tiếng, xin phía Tây ước hẹn với Tam Tần, phía Nam liên kết với nước Tề, nước Sở, phía Bắc hòa với Thiền Vu sau đó mới có thể lo toan được. .





Thái tử nói:





- Kế của thái phó tốn mất nhiều ngày giờ quá. Lòng tôi lo lắng ưu phiền, sợ không đợi được giây lát. Vả chăng, không phải như thế mà thôi, Phàn tướng quân là người cùng khốn, thiên hạ không ai dung, gửi thân ở Đan, dù sao Đan cũng không thể vì bị nước Tần mạnh bức bách mà bỏ rơi người bạn đáng thương, đưa ông ta sang Hung Nô, như thế thì Đan chết mất. Xin thái phó nghĩ cho cách khác.





Cúc Võ nói:





- Làm việc nguy mà muốn cầu được yên, gây họa mà muốn cầu được phúc; mưu kế thì cạn mà kết oán thì sâu; hên kết với một người mà không nghĩ đến cái hại lớn của nước nhà, tức là như người ta nói, thêm oán mà gieo họa vậy. Điều đó cũng như lấy nắm lông chim hồng mà đốt trên lò than, nhất định chẳng còn gì nữa. Nước Tần đã hung ác lại muốn làm hả cơn giận dữ thì chưa biết đến thế nào mà nói? Nước Yên có Điền Quang tiên sinh là người trí sâu mà dũng cảm thâm trầm, có thể bàn với ông ta được(14)





Thái tử nói:





- Muốn xin thái phó cho tôi được làm quen với Điền tiên sinh, có được không?





Cúc Võ nói:





- Xin vâng.







Cúc Võ bèn đi tìm Điền Quang nói:





-Thái tử muốn mưu việc nước với tiên sinh đấy.





Điền Quang nói:





-Xin vâng lời dạy.







Bèn đến, thái từ ra đón, đi giật lùi để dẫn đường, quỳ xuống để trải chiếu.





Điền Quang ngồi yên, xung quanh không có ai, thái tử dời khỏi chiếu nói:





- Nước Yên và nước Tần không cùng sống, xin tiên sinh lưu ý cho.





Điền Quang nói:





- Tôi nghe nói ngựa kỳ, ngựa ký lúc đang mạnh thì ngày ruổi ngàn dặm, đến khi già rồi ngựa hèn vượt lên trước.Nay thái tử chỉ nghe thời Quang còn trai trẻ chứ không biết rằng tinh lực tôi đã hao mòn hết rồi. Nhưng mặc dù Quang không dám bàn việc nước, người bạn của tôi là Kinh Khanh có thể dùng được.





Thái tử nói:





-Tôi muốn nhờ tiên sinh cho tôi kết bạn với Kinh Khanh có được không?.





-Thưa vâng.







Điền Quang liền đứng dậy bước rảo ra ngoài. Thái tử tiễn đến cửa căn dặn:





- Điền Đan trình bày, tiên sinh chỉ giáo, đều là việc lớn của nước, xin tiên sinh chớ tiết lộ.





Điền Quang cúi đầu mỉm cười nói:





- Vâng







Điền Quang lom khom đến gặp Kinh Khanh(15) nói:





- Quang và ông quen nhau, nước Yên ai cũng biết. Thái tử chỉ nghe Quang lúc còn khỏe mạnh không biết Quang này đã kém cỏi rồi. Thái tử lại dạy tôi rằng: “Nước Yên và nước Tần không cùng chung sống, xin tiên sinh lưu ý cho”. Quang trộm nghĩ rằng mình không nên đứng ra ngoài, nên tiến cử túc hạ với thái tử. Xin túc hạ quá bộ đến cung thái tử.





Kinh Kha nói:





- Xin vâng lời dạy.





Điền Quang nói:





- Tôi nghe nói kẻ trưởng giả làm việc không để cho người ta ngờ mình. Nay thái tử nói với Quang rằng: “Điều nói đó là việc lớn của nước, xin tiên sinh chớ tiết lộ”, như vậy là thái tử ngờ Quang. Phàm làm người để cho người ta ngờ mình, thì không phải là người nghĩa hiệp.







Điền Quang muốn tự sát để khích lệ Kinh Kha, nói:.





- Xin túc hạ đến gặp thái tử ngay, nói rằng Quang đã chết để chứng tỏ quang không nói với ai.





Bèn tự đâm cổ mà chết.







Kinh Kha vào yết kiến thái tử nói việc Điền Quang đã chết và kể lại lời của Quang. Thái tử lạy hai lạy, đi bằng đầu gối, nước mắt ròng ròng. Một lúc sau mới nói:





-Đan này sở dĩ đặn Điền tiên sinh đừng nói là muốn mưu việc lớn thành công. Nay Điền tiên sinh lại lấy cái chết để chứng tỏ rằng mình không nói, thực có phải là bụng của Đan này đâu.





Kinh Kha ngồi yên, thái tử đứng dậy cúi đầu nói:





- Điền tiên sinh không biết rằng Đan này ngu dại cho Đan được đến trước mặt túc hạ mà bày tỏ. Đó là trời thương nước Yên mà không vứt bỏ đứa con mồ côi của nó. Nay nước Tần có bụng tham lợi, lòng tham không vừa, nếu không lấy tất cả đất đai trong thiên hạ nộp cho nó, bắt tất cả các vua trong thiên hạ làm tôi nó, thì ý nó chưa thoả mãn. Nay Tần đã bắt vua Hàn, lấy hết đất Hàn, lại đem binh về phía Nam đánh Sở, phía Bắc đánh Triệu. Vương Tiễn đem quân mấy mươi vạn chặn lấy đất Chương, đất Nghiệp, Lý Tín lại đem quân ra Thái Nguyên, Vân Trung. Nước Triệu không thể chống nổi Tần, thế nào cũng phải vào xưng thần; vào xưng thần thì tai họa đến nước Yên. Nước Yên nhỏ yếu, nhiều lần khổ vì chiến tranh, tính dốc cả sức trong nước cũng không đủ để chống cự với Tần, chư hầu sợ nước Tần, không ai dám hợp tung. Theo kế riêng của Đan, thì ngu này cho rằng nếu có một kẻ dũng sĩ trong thiên hạ đi sứ sang Tần, dùng lợi to để nhử nó. Tần Vương tham lam, thế nào ta cũng làm được điều mong muốn. Nếu có thể bắt tiếp được vua Tần buộc nó phải trả cho chư hầu những đất mà nó đã xâm chiếm, như Tào Mạt đã làm đối với Tề Hoàn Công thì thực là hay lắm, không được thế thì nhân đó đâm chết hắn đi. Đại tướng của nước Tần cầm quân ở ngoài mà trong nước lại có loạn thì vua tôi ngờ vực nhau, nhân thời cơ ấy chư hầu có thể hợp tung, thế nào cũng phá được nước Tần. Đó là điều mong mỏi nhất của Đan nhưng không biết ủy thác cho ai, xin Kinh Khanh lưu ý cho.





Một hồi lâu, Kinh Kha đáp:





- Đó là việc của nước lớn, thần hèn kém sợ không đáng sai khiến.





Thái tử bước đến trước cúi đầu, khẩn khoản xin đừng từ chối, sau đó Kinh Kha mới nhận lời.







Thái tử bèn tôn Kinh Kha làm thượng khanh ở nhà sang nhất. Thái tử ngày ngày đến trước cửa dâng cỗ thái lao, các vật lạ xe ngựa, gái đẹp tha hồ Kinh Kha muốn gì được nấy để làm chàng vừa lòng.







Sau một thời gian, Kinh Kha vẫn chưa có ý đi. Tướng Tần là Vương Tiễn đã phá nước Triệu, cầm tù vua Triệu, lấy tất cả đất Triệu tiến quân về phía Bắc, cướp đất đến biên giới phía Nam nước Yên. Thái tử Đan lo sợ, cầu khẩn Kinh Kha:





- Quân Tần nay mai sẽ vượt qua sông Dịch Thủy thì dù tôi muốn hầu túc hạ mãi cũng chẳng dễ mà được đâu?





Kinh Kha nói:





-Thái tử không nói, thì tôi cũng muốn yết kiến để bàn việc ấy. Nay đi mà không có gì làm tin thì khó lòng đến gần vua Tần. Vua Tần treo giải nghìn cân vàng, ấp muôn nhà để bắt Phàn tướng quân. Nếu quả được cái đầu của Phàn tướng quân và địa đồ đất Đốc Cáng của nước Yên để dâng lên vua Tần, thì vua Tần thế nào cũng vui lòng cho tôi yết kiến, bấy giờ tôi mới có cách để báo đáp thái tử.







Thái tử nói:





- Phàn tướng quân cùng khốn về với Đan, Đan này không nỡ vì việc riêng của mình làm hại đến người trưởng giả, xin túc hạ nghĩ cho cách khác.





Kinh Kha biết thái tử không nỡ, bèn thân hành đến gặp Phàn Ư Kỳ nói:





- Nước Tần đối đãi với tướng quân có thể gọi là quá thâm độc. Cha mẹ họ hàng đều bị giết, nay nghe nói họ mua cái đầu của tướng quân nghìn cân vàng, ấp vạn nhà, tướng quân nghĩ sao?





Ư Kỳ ngửa mặt lên trời thở dài, sa nước mắt mà rằng:





- Ư Kỳ mỗi khi ngh đến điều đó, thường đau đến tận xương tuỷ, nhưng không nghĩ ra kế gì. Kinh Kha nói:





-Nay có một lời, có thể cứu nguy cho nước Yên, báo thù cho tướng quân. Tướng quân nghĩ thế nào?





Ư Kỳ bèn tiến lên nói:





- Làm thế nào bây giờ?





Kinh Kha nói:





- Tôi muốn xin cái dầu của tướng quân để hiến vua Tần, vua Tần thế nào cũng mừng rỡ tiếp kiến tôi. Tôi tay trái nắm lấy tay áo nó, tay phải đâm vào bụng nó như thế thì trả được thù cho tướng quân lại rửa được cái nhục bị khinh rẻ của nước Yên. Tướng quân có nghĩ như thế không?





Phàn Ư Kỳ xắn ống tay áo tiến lên nói:





- Đó là điều ngày đêm tôi nghiến răng nát ruột, đến nay mới được nghe chỉ giáo.







Bèn tự đâm cổ chết(15).







Thái tử biết vậy ruổi ngựa đến, nấp bên thây mà khóc hết sức thảm thương. Nhưng việc đã không làm sao được, nên bỏ đầu Phàn ư Kỳ vào hòm và niêm phong lại.





Thái tử sai tìm trong thiên hạ được cái chuỳ thủ sắc của Từ phu nhân nước Triệu, mua mất trăm lạng vàng, sai thợ tẩm thuốc độc thử đâm vào người hễ máu chảy ra như sợi tơ là người chết ngay.







Bèn chuẩn bị hành lý để cho Kinh Kha đi. Nước Yên có người dũng sĩ là Tần Vũ Dương, mười ba tuổi, giết người không ai dám trừng mắt nhìn. Bèn sai Tần Vũ Dương làm phó. Kinh Kha muốn đợi một người để cùng đi. Người ấy ở xa chưa tới, đã sắp sẵn hành lý cho anh ta. Đợi một thời gian chưa lên đường. Thái tử cho rằng quá chậm, ngờ Kinh Kha có đổi dạ chăng, bèn lại giục:





- Ngày đã hết rồi. Kinh Kha có bằng lòng đi không, Đan xin cho Tần Vũ Dương đi trước.





Kinh Kha giận mắng thái tử:





-Tại sao thái tử lại làm thế? Đi mà không nên việc đó là phường con trẻ(17). cầm một cây chuỳ thủ, lọt vào nước Tần mạnh bất trắc, tôi sở dĩ ở lại là vì còn đợi người khách của tôi cùng đi. Nay thái tử cho là trễ, vậy xin chia tay ngay.







Bèn ra đi.







Thái tử và tân khách biết chuyện ấy đều mặc áo mũ trắng để tiễn. Đến trên sông Dịch Thủy, sau khi làm lễ tiễn hành, lên đường, Cao Tiệm Ly gầy đàn trúc, Kinh Kha theo nhịp mà hát theo điệu biến chủy(18), kẻ sĩ đều sụt sùi nức nở.







Kinh Kha lại tiến lên hát:





Gió hiu hắt, chừ, Dịch Thủy lạnh ghê!



Tráng sĩ ra đi chừ không bao giờ về!







Lại hát theo điệu vũ khảng khái, mọi người trợn mắt,tóc đều dựng đứng xiên lên mũ.







Sau đó Kinh Kha lên xe đi, không hề nhìn ngoái lại(19).





Kinh Kha đến Tần, đem lễ vật giá nghìn vàng đút cho viên quan trung thứ sử là Mộng Gia bầy tôi yêu của vua Tần.





Gia nói trước với vua Tần:





- Vua Yên thực sự sợ hãi uy thế của đại vương, không dám đem binh để đón đánh các tướng, muốn xin đem cả nước làm tôi nước Tần, đứng ở hàng chư hầu, chịu nộp cống, chịu nhận chức như một quận một huyện để được giữ tôn miếu của tiên vương. Họ sợ hãi không dám tự bày tỏ, đã chém đầu Phàn Ư Kỳ mềm phong bỏ vào hòm và dâng địa đồ xứ Đốc Càng. Vua Yên lạy trước sân sai sứ sang tâu với đại vương, xin đại vương phán cho như thế nào!







Vua Tần nghe nói cả mừng bèn mặc áo chầu, đặt lễ cửu tân(20), tiếp kiến sứ giả nước Yên ở cung Hàm Dương. Kinh Kha bưng đầu Phàn ư Kỳ, còn Tần Vũ Dương bưng tráp đựng địa đồ, lần lượt dâng lên. Đến bệ, Tần Vũ Dương run sợ biến sắc mặt, các quan lấy làm lạ. Kinh Kha quay lại cười Tần Vũ Dương, tiến lên xin lỗi, nói:





- Nó là kẻ mọi rợ ở phương Bắc, chưa hề trông thấy thiên tử, cho nên run sợ. Xin đại vương tha thứ cho, để cho nó được làm tròn phận sự một sứ thần trước mặt thiên tử.





Vua Tần bảo Kinh Kha:





- Đưa địa đồ Vũ Dương cầm đó lên đây.





Kinh Kha liền cầm địa đồ dâng lên. Vua Tần mở địa đồ. Giở hết địa đồ thì cái chuỳ thủ hiện ra. Kinh Kha liền tay trái nắm lấy tay áo vua Tần, tay phải cầm chuỳ thủ chĩa vào người. Đao chưa đến người, vua Tần sợ hãi vùng đứng dậy. Ống áo đứt, Vua Tần tuốt kiếm, kiếm dài, vua nắm lấy bao kiếm. Lúc bấy giờ hoảng hốt, kiếm lại chặt nên không tuốt được ngay. Kinh Kha đuổi theo vua Tần, vua Tần chạy quanh cột trụ, các quan luống cuống, gặp lúc hoảng hốt, đều mất cả vẻ mặt lúc bình thường. Theo phép của nước Tần các quan chầu chực ở trên điện không được cầm một tấc binh khí. Các lang trung cầm binh khí đều đứng sắp hàng ở dưới điện, nếu không có chiếu chỉ gọi thì không được lên. Bấy giờ đang lúc gấp, không kịp gọi những người cầm binh khí ở dưới. Vì vậy Kinh Kha đuổi vua Tần, các quan vẫn cuống quít không có gì để đánh trả lại chỉ lấy tay mà đánh Kinh Kha. Lúc bấy giờ viên thầy thuốc đứng hầu tên là Hạ Vô Thư lấy túi thuốc cầm trong tay ném Kinh Kha. Vua Tần đang chạy quanh cột vẫn cuống quít chưa biết làm thế nào. Tả hữu kêu lên:





- Nhà vua mang kiếm sau lưng.





Vua Tần đưa tay ra sau lưng, tuốt kiếm đánh Kinh Kha, chặt đứt bắp vế bên trái. Kinh Kha què bèn cầm chuỳ thủ ném vua Tần. Ném không trúng, trúng cái cột đồng. Vua Tần lại đánh Kinh Kha, Kinh Kha bị tám vết thương tự biết công việc không xong bèn tựa vào cột mà cười, ngồi xổm mà mắng:





- Việc này không xong chỉ vì ta muốn để cho nó sống mà uy hiếp nó lấy cho được giấy cam kết để đưa cho thái tử(21).





Lúc bấy giờ tả hữu tiến lên giết Kinh Kha. Vua Tần hoảng hốt một hồi lâu, sau đó bàn công lao thưởng các quan và trị tội theo thứ bực, cấp cho Hạ Vô Thư hai trăm cân vàng, nói:





- Vô Thư yêu ta nên cầm túi thuốc ném Kinh Kha.





Vua Tần bèn cả giận cho thêm quân sang Triệu, ra lệnh cho Vương Tiễn đem quân đánh Yên. Tháng mười, lấy được thành Kế, vua Yên là Hỷ, thái tử Đan đều đem tất cả tinh binh sang phía Đông cầm cự ở Liêu Đông. Tướng Tần là Lý Tín đuổi đánh vua Yên gấp, vua nước Đại là Gia bèn đưa cho vua Yên là Hỷ bức thư nói:





“Nước Tần sở dĩ đuổi đánh nước Yên ráo riết hơn cả là vì thái tử Đan. Nếu nhà vua giết Đan dâng cho vua Tần thì vua Tần có thể giải hòa, còn có hy vọng nền xã tắc được cúng tế lâu dài ”.





Sau đó Lý Tín đuổi Đan. Đan nấp ở vùng sông Diễn Thủy. Vua Yên bèn sai người chém thái tử Đan, dâng đầu cho vua Tần. Tẩn lại đem binh đánh. Năm năm sau (năm 222 trước Công nguyên) nước Tần diệt nước Yên, bắt vua Yên là Hỷ. Sang năm sau, Tần lấy tất cả thiên hạ xưng hiệu là hoàng đế.





Tần bèn lùng bắt bạn bè của thái tử Đan và Kinh Kha. Họ đều bỏ trốn. Cao Tiệm Ly đổi họ tên làm thuê cho người ta, nương náu ở huyện Tống Tử. Được ít lâu, làm việc khó nhọc, nghe ở trên thềm có khách chơi đàn trúc, bàng hoàng không sao bỏ đi được. Thường nói: người này gảy khá, người kia gảy kém. Bọn đầy tớ nói với chủ: .





- Người làm thuê kia biết âm nhạc, bàn trộm người hay kẻ dở.





Chủ nhà gọi đến gảy đàn trúc, mọi người đều khen hay,cho rượu uống. Cao Tiệm Ly nghĩ mình cứ lén lút rụt rè mãi bao giờ cho cùng, bèn trở lui, lấy cái đàn trúc và quần áo đẹp trong hòm ra thay đổi dung mạo bước lên. Tất cả khách ngồi ở đấy đều kinh ngạc bước xuống làm lễ, tôn làm thượng khách bảo gảy đàn trúc và hát. Mọi người đều sa nước mắt mà bỏ về. Trong vùng Tống Tử, các nhà lần lượt mời Cao Tiệm Ly đến làm khách. Việc đến tai Tần Thủy Hoàng. Thủy Hoàng gọi vào chầu. Có người biết, nói:





- Đó là Cao Tiệm Ly.





Tần Thủy Hoàng tiếc chàng giỏi gảy đàn trúc, nên đặc cách tha chết, làm cho đui cả hai con mắt của Ly. Sai gảy đàn trúc: lần nào cũng khen hay. Dần dần vua Tần lại ngồi gần, Cao Tiệm Ly đổ chì vào ống đàn trúc, vua lại gần hơn,Cao Tiệm Ly giơ đàn đánh Tần Thủy Hoàng. Đánh không trúng, nhà vua bèn giết Cao Tiệm Ly, suốt đời không gần gũi người các nước chư hầu nữa.











Lỗ Câu Tiễn sau khi nghe tin Kinh Kha đâm vua Tần, nói riêng một mình:





- Than ôi! Tiếc thay hắn không thạo về phép đánh gươm! Ta thật không biết người quá nỗi! Xưa kia ta quát hắn, chắc hắn không cho ta là người cùng chí(22).









(6). Khánh có lẽ là họ của Kinh Kha. Khanh danh từ dùng để gọi những người mình tôn trọng.

(7). Tác giả dùng phép ức dương: trước khi nói đến sự dũng cảm của Kinh Kha thì kể một chuyện làm người đọc tưởng rằng Kinh Kha lần đầu hèn nhát, rồi lần thứ hai cũng lại hèn nhát.

(8). Đàn trúc cũng giống đàn cầm, nhưng lấy trúc mà gấy.

(9). Chi tiết này chứng tỏ Kinh Kha và Cao Tiệm Ly có tâm sự u uất không thể thổ lộ cùng ai. Tư Mã Thiên có một phương pháp tự sự độc đáo làm thành một phong cách riêng: khi kể chuyện về một nhân vật thường đưa ra những giai thoại rất ngắn chỉ 4, 5 câu có thể vụn vặt, nhưng những chi tiết ấy lại rất điển hình làm cho nhân vật rất sống.

(10). Đây chỉ địa phận nước Yên.

(11). Hàn Phi nói, dưới cổ con rồng có cái vẩy ngược ai động đến thì nó giết ngay.

(12). Những nhà chính trị giỏi thời Xuân Thu.

(13). ý muốn hợp tung chống Tần.

(14). ý Cúc Võ đã muốn nói đến kế dùng thích khách cho nên nói đến chữ dũng cảm thâm trầm.

(15). Hai chữ lom khom đủ để lột tả Điền Quang là ngựa ký về già.

(16). Phàn Ư Kỳ lại là một hiệp sĩ. Người thứ hai chết mong giục Kinh Kha báo thù.

(17). ý Kinh Kha muốn đợi người cùng đi cho chắc chắn. Chỉ có bọn trẻ con ngu ngốc mới làm việc xốc nổi không xem xét trước sau sao cho nên việc.

(18). Nhạc cổ theo âm luật cao thấp chia ra cung, thương, giốc, chuỳ, vũ gọi là năm cung.

(19). Chỉ thêm mấy chữ "Không hề nhìn ngoái lại" mà khí phách anh hùng của Kinh Kha nổi bật.

(20). Xem chú thích ở Liêm Pha, Lạn Tương Như liệt truyện.

(21). Tất cả đoạn này không nhắc một chữ đến Tần Vũ Dương càng làm người ta nhớ đến “người bạn Kinh Kha chờ để cùng đi”.

(22). Kết luận sinh động. Lỗ Câu Tiễn hôi tiếc không dạy cho Kinh Kha cách đánh gươm đến nỗi việc lớn thất bại và tự thẹn về chỗ Kinh Kha bỏ mình ra đi: Câu này cắt nghĩa Kinh Kha muốn chơi với người cùng chí hướng, thấy ai không cùng chí nguyện thì bỏ đi chứ không phải hèn nhát. Nhân vật Kinh Kha lôi cuốn người ta không chỉ vì là hiệp sĩ mà là một người có tâm sự kín đáo, không mấy người hiểu. Trong những con người không hiểu đó có cả thái tử Đan.



Sử Ký-Tư Mã Thiên. Phan Ngọc dịch.

Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2007

Nhập ma




Tớ thường rất chú ý đến việc đặt tương quan giữa tít với ảnh với nội dung và với tag. Trong các tag của tớ có một cái là "tâm_ma". Cái này tớ đặt để ở đấy rất lâu rồi hy vọng gầy dựng được sự cảm thông tương tri với bạn bè; cũng như gầy dựng được niềm tin bất xá bất tuyệt vào LÒNG YÊU SỐNG, QUYẾT VƯỢT trong 1 vài bạn bè - dù là họ chưa ở trong friend list của tớ. Tớ viết hay nói điều gì luôn có 1 đối tượng xác định trước những liên tưởng chung chung khác cho mọi người. Và để 1 lúc nào đó các bạn tớ bắt đầu chia sẻ được một cách tích cực khi tớ chính diện viết về "tâm_ma", nói ngoa là tớ nhập ma.

Tớ mượn tạm chi tiết của Tru Tiên để ví von thế này: cũng giống như dùng toàn thân dụng dẫn "Ngự lôi chân quyết" khi hoả hầu chưa đủ vậy. Tớ nhập ma là bất xá rồi nên mong bạn tớ nhớ cho một điều - hãy chỉ soi lại chính mình; hễ khởi vọng tâm phán xét, tranh biện với tớ thì cũng thôi đi. Chỉ xét mình còn hãy cho người như nguyện với chính những nghiệp báo của anh ta.

Phiến diện trong đa đoan mong bạn hiểu và NHẬN cho. Ngoài ra tớ chả có gì đáng kể.


Chủ Nhật, 8 tháng 4, 2007

Lựa chọn




Sổ tay: Phương thức tư duy của chúng ta phụ thuộc rất nhiều vào những gì mà chúng ta làm và những cái mà chúng ta cảm thấy hứng thú...> Không có nghĩa là suy nghĩ bị bóp méo mà chỉ có nghĩa: có rất nhiều khả năng lựa chọn cho phương thức tư duy của chúng ta - nếu có hứng thú khác thì suy nghĩ khác. (Erich Fromm)
------------






Tớ có vài thắc mắc từ lâu mà chưa giải đáp được. Vì đó là vấn đề của phương thức tư duy khác. Chứ không đơn giản gói gọn trong việc bô bô nói đúng sai. Nhớ lại ngày trước phải trình bày 1 bài tập nhóm, sau khi nghe tớ trình bày xong, có 1 bạn đã phản biện thế này: "Ông nói khôn bỏ xừ. Nói vậy, đúng thì là công của các ông mà sai thì không phải lỗi của các ông!". Nguyên lai bởi vì trước khi trình bày tớ có nêu lên 3 mục tiêu của nhóm: 1. Hoàn thành bài tập môn học. 2. Nắm được phương pháp luận môn học. 3. Đặt vấn đề tổng quát và vạch ra hướng giải quyết cũng như giải quyết thí điểm trong phạm vi khả năng cho phép. Hì, nói thế thì quả thật là đã lái được mọi người vào cái tiêu điểm dễ trình bày nhất là "Phương pháp luận" - chứ môn học có vài trình mà để các bạn hiền soi vào các chi tiết thì chỉ tổ phí công trình bày. Lúc bạn ấy nói thế, tớ ứng khẩu nói ra điều này mà mãi sau này tớ luôn cảm thấy đúng một cách dễ hiểu thế mà sao nhiều người không chia sẻ tâm đắc mấy. Tớ bảo đại ý "Thực ra, cái Đúng nó không phụ thuộc vào tớ hay vào các bạn. Chúng ta đơn giản là cố gắng tiến tới nó. Nếu có đến sát nó thì tớ vẫn chả có công gì". Có nghĩa là thực lòng khi tớ Đúng tớ cũng không tự hào gì. Khi tớ Chưa Đúng thì tớ chỉ quan tâm đến làm sao cho Đúng. Tớ không nghĩ là ai có thể sở hữu riêng nó được. Các bạn cẩn thận, cái Đúng ở đây tớ dùng với nghĩa rất tương đối và rộng rãi - đại khái gần giống Chân Lý, nhưng mang màu sắc như là những giá trị, phẩm chất đáng theo đuổi của cuộc sống.


Dạo này online nhiều, va chạm nhiều nên học được tính cẩn trọng trong trích dẫn hay sử dụng tài liệu của người khác. Vì tớ muốn tránh rắc rối. Nhưng cũng vì học theo gương cụ Nguyễn Hiến Lê - gương của người tự học: biết cái gì từ đâu thì nói đúng như thế. Để người khác có thể kiểm chứng, có thể kiếm được tài liệu mà cùng học, cùng suy tư với mình. Cũng để người khác có thể chỉ ra cho ta chỗ sai nếu có. Trước chuyện ĐÚNG-SAI cụ luôn chừng mực, rán dò nguyên nhân của người, đưa ra thuyết của mình. Có thể nói đơn giản thế này "TỪ CHỖ TÔI BIẾT THÌ TÔI THẤY LÀ ANH SAI. TÔI SUY NGHĨ THẾ NÀY...ANH CÓ THỂ THAM KHẢO" thay vì nhảy chồm chồm lên và mạt sát hay mỉa mai. Tớ mãi mãi không hiểu sao khi người ta nghĩ mình đúng người ta thường tự cho quyền mình được mỉa mai, phê phán kẻ khác nặng nề đến vậy. Nếu ta biết cái ĐÚNG điều tự nhiên và giản dị nhất, cần thiết nhất là chia sẻ giúp người chưa thấy biết nó. Nếu không, lấy gì để phân biệt ĐÚNG - SAI? Như người đầu tiên ra khỏi HANG TỐI thì việc cần thiết là dẫn kẻ khác ra khỏi HANG chứ đâu có thể nói chuyện lạc lõng vu vơ, ông nói gà bà nói vịt được??? Trong 1 bài viết cũ tớ cũng từng viết thế này:






Vả lại tôi không cho mình cái quyền cười nhạo kẻ khác khi bản thân mình tồi tệ. Nếu anh hạnh phúc thì anh phải tôn trọng hạnh phúc của người khác và cảm thông với kẻ bất hạnh; nếu anh bất hạnh lí gì anh ghen tức hạnh phúc của người khác và không chia sẻ với kẻ đồng cảnh? Nhưng khi anh phải lựa chọn giữa quyền lợi và thua thiệt thì sao? Khi tôi chưa biết nơi nao là con đường phải đi mà tôi lại phải lựa chọn – lựa chọn khi hạnh phúc và quyền lợi (thứ quyền lợi được gán ghép bởi cái Tôi tự ngã đã và đang có trong mỗi bản thân) được đánh đồng một cách mù quáng. Làm gì có thứ hạnh phúc được xây dựng trên bất hạnh của kẻ khác?



Tớ có lẽ hơi mê tín mà nghĩ rằng người ta ai cũng muốn tốt cả - chỉ có sự mê muội làm người ta thành ra khác nhau. Cũng như rằng chúng sinh ai cũng bình đẳng trước sự mê muội, trước U Minh cả.



Chuyện có thể sẽ hơi lan man. Tớ cố gắng gói gọn lại vì khuya rồi. Rằng tớ thấy cái quan niệm về bản quyền, bản nguyên của các bạn Tây tuy nó đúng, nó hay nhưng với tớ nó cứ sao sao ấy...Khoan khoan các bạn hiền đừng bỉ tớ vội. Hượm để tớ nói nốt đã. Rốt cuộc thì sống để nhìn thấy cái gì? Nếu có điều gì tâm đắc thì có thể hoặc vui tương tri với bằng hữu, hoặc chia xẻ với người, nhược bằng không gặp ai thì cũng có thể tự yên vui. Ghét cái Ác cái Sai nhưng đâu ghét được kẻ mê muội? Bẩm sinh con người có sự lân mẫn. Một cách tâm lý mà nói, tớ nghiệm rằng một khi đã dồn kẻ khác vào chỗ tự ái, nhục nhã thì đừng hòng mong cuộc tương ngộ nào nữa. Vì một mục đích cuối cùng thì việc bỉ kẻ khác là một cái gì đó nông nổi, hời hợt và đáng thương hại. Rồi lại tạo nghiệp trùng trùng.



Năm xưa tớ có lần đọc thấy có bạn văn bạn ấy cạnh việc TCS dùng vài câu thơ của BG mà không có lấy một lời. Tớ giận bạn ấy lắm. Bạn ấy cũng bô lô ba la trong văn giới mà lại nhầm lẫn tai hại vậy. Cả hai con người ấy vốn cốt lấy sống làm thể nghiệm. Lấy tương tri, tương giao làm vui sống. Vậy mà bạn ấy không hiểu. Tớ ghét việc phê phê bình bình cực! Tớ chỉ thích xướng hoạ. Nếu bạn muốn bình một bài thơ - hãy làm một bài thơ. Hoặc một việc gì thơ như thế.



Lỡ từ lạc bước bước ra
Bước đi đi mãi đi là đi luôn..

(BG)






Trong "Góp nhặt cát đá" cũng có mẩu chuyện này "hay": Một nhạc công biểu diễn một bản nhạc. Người kia nghe xong bèn hỏi: "Rằng hay thì thật là hay. Nhưng xin ngài hãy giảng giải thêm". Người nhạc công lại chơi lại một lần nữa và dang tay ra "Vậy đấy".




Trên là nói chuyện tương tri ở đời, trong cõi người_ta. Còn như không được như thế thì còn nói làm gì! Còn tranh giành hơn thua làm gì? Tớ đồ rằng nguyên lai khởi ra từ chỗ người ta vốn coi rằng tác giả và tác phẩm là hai thứ có thể tách rời nhau được. Quả vậy. Nhưng là với người khác!!! Còn như với chính mình, nếu bạn tách nó ra thì bạn vĩnh viễn mất đi SUỐI NGUỒN SƠ THUỶ. Nghệ thuật, với tớ, luôn luôn phải là BIỂU HIỆN của tinh thần nội tâm của chính NGƯỜI ĐÓ. Sai 1 ly đi vạn dặm. Trong mê trong muội, tạo tác ra một thứ mà mình cũng không tự thức được - thì ích gì? Nó khác gì với vạn chủng trong U GIỚI đâu? Nó đã chia lìa rồi! Các bạn nghệ sỹ thường rất tự hào trong cái U GIỚI của mình như vậy.
-----------------



- Con đường hợp nhất bằng hoạt động sáng tạo.

(E.F)

+ Kẻ sáng tạo hợp nhất mình với chất liệu đại diện cho thế giới bên ngoài

+ Chỉ áp dụng cho việc sản xuất – (trong đó) tôi thiết kế, thi hành, nhìn kết quả công việc của mình.

> Cái nhất tính được tựu thành trong công việc sản xuất không phải là liên vị / cái nhất tính tựu thành trong hỗn hợp say thì tạm thời / nhất tính được tựu thành bởi phù hợp thì chỉ là nhất tính giả tạo (vì chỉ liên quan đến tâm).

--------------------









Nếu Triệu Châu mà thu phí cái chữ "VÔ" của ông thì hẳn đã giàu bộn - mà cũng không có chỗ cho chư sư đời sau mở miệng nói "MỖI LẦN ĐƯA RA MỘT LẦN MỚI" nữa. Thiệt tình!

Thứ Hai, 26 tháng 3, 2007

Chuyện có thể dài mãi mãi...




"Anh thương em như thương một bà trời

Em thương anh như thương hại một ông trời bơ vơ..."


Tớ rất mến Bùi Giáng nhé, cứ như là tớ hiểu ổng lắm ấy. Ví dụ như hai câu thơ vừa rồi của ổng chẳng hạn. Thú thật với các bạn, tớ càng thích tác giả nào là y như rằng tớ không thuộc được đến 1 bài trọn vẹn :( Bạn bè với nhau khách sáo làm gì! Đọc đến đâu ký ức, cảm xúc ùa về đến đấy-người ta còn bận hàn huyên, hơi đâu mà ghi nhớ. Thấy khoẻ là mừng rồi. Nên đừng bắt tớ chứng minh bằng khả năng đọc thuộc. Cả bao nhiêu thơ của ổng, tớ thuộc có mỗi 2 câu này. Còn hai câu nữa nhưng mà tớ không thích. Tớ lấy 2 câu này bình chơi.


Đọc lần đầu đến chữ "một bà trời" là tớ cứ mê đi. Thật bạn nào yêu rồi khắc biết. Yêu thực sự là không còn cảm giác níu kéo hay chiếm giữ nữa. Cứ là mê đi! Nâng niu như đồ cổ-nhẹ tay sợ rơi, cầm chặt lại e vỡ. Dân trong Nam dùng từ "thương" hay cực! Thương chứ không chỉ là yêu nhé-thương là yêu, yêu, ...yêu...nâng niu, săn sóc, hết ruột hết gan...bala ...bala...Mà nghe dân Nam nói kiểu "Anh thương em" thật nhẹ hết biết, ngọt hết biết. Thoảng qua cái mà như u hương cứ lưu luyến hoài, cứ thương nhớ hoài...


Mà các bạn có biết "trời" không? Ai chả biết-hình như còn thân lắm ấy! Bằng chứng là thoảng có việc gì phiền lòng lại kêu..."Trời, có ai như cổ không kìa", "Trời, anh phải làm sao bi giờ...?" Kêu như kêu cha kêu mẹ còn như có oán có hờn, kêu chị kêu em còn như kêu không gọi...chớ kêu trời là có ngay cảm giác tức thì, vạn lý truyền âm, kêu trời là trời ở bên cạnh ngay à nha. Với tớ, trời là cái gì hết sức gần gũi, bao la, vô điều kiện. Không nói ngoa, tớ cũng là dạng "Anh thương em như thương một bà trời". Kêu chi mà ngọt lẹ. Chưa bao giờ từ bà đắt đến như vậy! Từ đầu đến cuối chữ "bà", thì gió còn mơn man, hương còn thoang thoảng...vậy mà thoắt cái chữ "trời" dzọt lẹ lên tận...trời xanh luôn. Thực "em gần sao em xa quá vậy?". Ờ, mà ở hiền gặp lành. Người như thế, tình như thế, chân thành như thế, thiết tha như thế...mà trời hổng thương thì trời cũng...kỳ!


Chờ hoài, chờ dài cổ, miệng tủm tỉm mím chi, chân đung đưa nhè nhẹ sang câu bát nào..."Em thương anh..." Phải rồi. Ê cò, dừng cái đồng hồ lại cái bây! Nghe mà nhẹ, mà thanh, xao xuyến ngập...trời....


"Em thương anh như thương hại một ông trời bơ vơ"


Phải rồi, sao mà đối cho đặng. Trời mà! Bao la rộng lớn hết sức-Vô điều kiện hết sức. Nhưng. Nhưng em cho mình làm ông trời sao nghe hụt hẫng quá đi. Mình đâu có muốn làm ông trời. Thà em bảo em thương anh như cái thằng chăn trâu thổi sáo dưới kia kìa. Nó đang ngửa bụng ngắm trời mê đắm đấy! Hay cho anh làm mây trắng vật vờ, thỉnh thoảng trời bực trời xua đi khoe xanh ngắt ngắt với nắng hây hây và sâu thăm thẳm có phải cam lòng không. Cho anh làm ông trời mà chi...Tớ cực thích chữ "bơ vơ". Bơ vơ giữa xanh ngăn ngắt, nắng hây hây, và sâu thăm thẳm nhé! Bạn nào biết yêu đến tận cùng, yêu đến không biết nhấc chân nhấc tay thế nào, luýnh qua luýnh quýnh, mờ mờ mịt mịt, đến tan rã cả nghìn năm tu luyện tinh thành...thì có biết "bơ vơ" chưa? Ngày trước đọc xong 2 câu thơ này tớ phải lọ mọ đọc lại "Ngộ nhận" của Albert Camus đấy. Đố các bạn ai là người ngộ nhận đấy? Ngộ cực. Biết rồi là lặng thinh luôn. Hổng phải bắt chước tạo dáng. Mà là "mịch mịch mãn thái không". Nói vậy chứ ai quen thân người ta hỏi mình chả lẽ bẩu không hỉu. Nói đại này:


"Anh thương em như thương một bà trời

Em thương anh như thương hại một ông trời bơ vơ

Kể ra từ bấy đến giờ

Tình yêu mỏng mảnh như tờ giấy rung"


Mệt rùi, giấy này, bút này. Nắng quá. Nhoè cả mắt. Thật. Hết biết. Đi chơi đi!!!

----------------------


Hôm trước được chị HY cho lên báo nên page view cứ gọi là tăng vùn vụt. Lại có bạn cũ đến add nữa. Vui cực. Toàn những người vốn tớ để fa vơ rít nhé. Nên vốn định nói ở chỗ khác, lúc khác nhưng bi giờ tớ cứ nói đại vô đây. Các bạn có bao giờ gặp, biết, thân...với một ai đó. Ai đó hiểu mình hết sức, hợp mình hết sức, muốn tốt cho mình hết sức. Ai đó quý vậy, hiếm vậy mà cả 2 cùng lặng lẽ ngó nhau cười rồi đi không??? Có những con đường khó chịu cực. Biết là có bạn mà không đi cùng nhau được. Buồn cười cực. Vậy đấy. Nếu mỏi cổ, chịu thôi ngó trời xanh thì tớ thật, tớ có khối bạn chơi bi đánh đáo bên hè! Nhưng tớ đang chờ xem mấy trắng kết hình gì. 2, 3 đứa cùng ngó nên chả ai ngó mặt ai nhé. Nhưng cuối cùng mỏi cổ rồi thì lại dắt trâu về thui. Tối đi bắn bòm đeee...


Hôm rồi có một bạn hỏi tớ một câu rất tinh tế thế này: " Có điều này tớ hơi để ý một tí, sao mấy tấm ảnh bạn post lên blog đều có vẻ nhòa, mờ một cách cố ý. :), như là những mảng ký ức chứ không phải ảnh vậy." Tớ cảm động mãi. Vì là nhá: thứ nhất bạn quan tâm khá kỹ, xem ảnh, xem cả lúc chụp ảnh. Lại trọng cái việc minh hoạ của tớ. Lại không cho là tớ nghèo, chỉ có máy ảnh lởm. Không cho là tớ cẩu thả, mô ve gu. Hoặc đúng là biết tớ cẩu thả nhưng vẫn mở cho tớ đường trả lời hay ho tinh tế :)

Nhưng mà tớ bây giờ mỏi tay rồi. Tớ viết tạm mấy dòng này thôi vì đã bẩu là "chuyện có thể dài mãi mãi..." mà. Các bạn có để ý cái bốt trước của tớ không? Có ảnh minh hoạ đấy! Tít thì là 1 câu trong truyện của Nguyễn Huy Thiệp này, nội dung thì về văn hoá làng Việt cổ của mấy bác học phiệt này. Ảnh thì chụp 4 bạn vừa đi thăm quan làng đi về lúc buổi chiều ra ô tô này. 2 bạn đi trước thì trẻ trung phơi phới, nhanh nhẹn này. Về mà. 2 bạn Tây già đi sau thì không vội lắm này. Đường thì thẳng tắp, cắt xéo ảnh ra. Ảnh thì nhoè nhoẹt ảm đạm nhá. Tớ có cố ý không. Không. Tại cái máy ảnh thôi. Đố các bạn này-Tại sao người hiện đại bây giờ thích chụp ảnh thế :)

Cái truyện của NHT cái câu đấy của 1 anh giai thành phố về quê làm giáo làng, sau chết vì bị trâu húc lúc cứu bọn trẻ con. Có bố có mẹ đàng hoàng nhưng không ai biết. Một mực "Tôi sinh ở nông thôn. Bố mẹ tôi là nông dân...". NHT còn có truyện "Con gái thuỷ thần" nữa đấy. Sau này tớ đọc Nguyễn Ngọc Thuần cũng có truyện gì "Đi về phía biển" hay sao ấy. Hệt....

Nào nào, các bạn đã bị lừa vào mê lộ của biểu hiện chưa? Ai muốn tham khảo thêm thì đọc ở đây này:

http://blog.360.yahoo.com/blog-ee_HcJoleqkCbGhJZiZFDw--?cq=1

Nhưng mà đừng vội kẻo nghẹn. Bạn nào cảm được bố cục sẽ thích. Tớ giờ học tủ, đang thiên về nhịp điệu. Khởi đầu là nhịp điệu. Nhớ nhá-Chân Thiện Mĩ là của Plato. Không giống quê mình đâu. Quê mình nghèo, hay ăn độn nên nôm na bẩu nhau là "Chân lý phải dễ chịu. Khoai ngon thì không hà". Tập trung vào ăn đi, dễ nghẹn lắm. Khoai không có bị hà đâu :)


-----------------

Lại nói chuyện bác Bùi Báng Giùi Giúi Bàng tý này. Có lần tớ thấy các bạn văn các bạn miệt bác bảo ai đời lại làm thơ "Cô Kim Cương hãy đi tiểu trên nấm mồ tại hạ...bala...bala...". Điên hết biết. Cũng chẳng biết tại sao Đười Ươi Trung Niên Thi Sỹ lại bảo 2 câu:


"Thanh minh trong tiết tháng ba

Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh..."


Lại bao quát hết nhân sinh càn khôn thiên địa nữa. Truyện kể mỗi về cái cô gì tên Kiều ăn mặn đái khai đi chơi hội lại pipi lung tung. Ai đời vừa ngồi xuống đứng lên đã "Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh" rồi.



Tớ ngày xưa có bận làm thầy mo đi giải mộng mị cho thiên hạ đấy. Bạn nào thích nghiên cứu các hiện tượng dị thường của chính mình, thích tư duy theo kiểu đồng dao-liên tưởng tượng trưng ấy mà-thì vào đây xem nhé!

http://www.langven.com/forum/index.php?showtopic=3651&st=90&p=87542&#entry87542


Tẩu hoả nhập ma tớ không chịu trách nhiệm. Phép hết linh rồi. Hôm trước thi lặn với một bạn, ù tai chảy máu mũi. Mất lộc rùi.

-------------------


À, mấy hôm trước tý toáy thế nào làm mấy bài cũ bị lỗi không đọc được ở hai lai pót. Các bạn tìm theo tag nhé. Tớ chỉ muốn lôi cái này lên thôi :)


"Đọc cái này kỹ nhé"

http://blog.360.yahoo.com/blog-FQJQjc00dqe5CQBraIUtT9L8HjLipA--?cq=1&tag=la_m%C3%AAme

Muốn biết chuyện sẽ dài đến bao giờ...xem hồi sau nào đó sẽ rõ :)

Chuyện có thể dài mãi mãi...
:)

Chủ Nhật, 18 tháng 3, 2007

Xin chào nhau giữa con đường

Ông ơi cháu nhớ quê nhà
Quê ngày xưa đó sống là vì nhau
Ngó màu xanh nhớ bể dâu
Đêm hư hao thức cũng mầu chiêm bao
Thế nhân là thế nhân sầu
Bọt trong bể khổ bèo đầu bến mê
U minh diễn một trò hề
Đầu non bóng nhạn tìm về cõi xa
Cũng hồn cũng máu cũng da
Cũng tình cũng nghĩa vẫn là người dưng
Dở hay thì cũng đã từng
Mỗi hồn là mỗi rưng rưng nỗi đời
Cơn gió giật, tiếng ông cười
Cháu nay biết học làm người lặng im
Ngược dòng nước mắt vào tim
Nghe lòng sâu thẳm lặng im đêm trường.
............

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau. (*)

Ngó màu xanh nhớ bể dâu

Trăm năm ngưỡng vọng một câu tương phùng

Mịt mùng một nẻo quê chung
Người về cố quận muôn trùng ta đi. (**)
----------------
(*): Thơ Bùi Giáng
(**): Của Huy Cận hay của Bùi Giáng nhỉ???



Chủ Nhật, 11 tháng 2, 2007

Bằng hữu. Tản mạn về chữ chí.

- Khi nào một người coi một người khác là bạn? Điều tối thiểu là họ phải "biết" nhau. Như vậy chưa đủ, họ còn phải có thể "thông - cảm" được với nhau ở một phương diện nào đấy. Do đó họ chia sẻ một sự tín nhiệm về "đồng cảm". Và "tín nhiệm" thường được coi làm tiêu chuẩn của tình bạn - tin cậy lẫn nhau, chúng ta thường nói như vậy. Điều kiện của tín nhiệm như vậy chính là một môi trường chung để có thể "cảm - thông" với nhau. Họ có thể không hiểu nhau ở chỗ bất đồng chính kiến, nhưng họ không "hại" nhau. Tức là họ chia sẻ với nhau niềm tin vào một sự liên đới nhân bản giữa các cá nhân với nhau. Chính điều này sẽ phát động hành vi giúp đỡ nhau lúc khó khăn một cách vô vụ lợi. "Làm cho bạn được như mình được". Mà vẫn duy trì, tôn trọng sự độc lập trong khai triển nhân tính của mỗi người. Tình bạn chia sẻ cảm nghiệm chúng ta chung một bản thể và hơn thế tất thảy đều gắn chặt trong bản thể của tự tính sự sống.

- Có bạn tốt là một điều hay. Có nhiều bạn tốt càng đáng mừng. Nhưng khai triển những năng tính của tình bạn hữu ra đến vô tận mới chính là điều tốt đáng hâm mộ. "Tứ hải giai huynh đệ".

Tình bạn thường được so sánh rất tự nhiên với tình anh em. Có thể nói tình anh em là mẫu hình lý tưởng cho tình bạn tốt? Ta thử tìm kiếm một vài ví dụ ngẫu nhiên xem sao.

Tình anh em. (Erich Fromm)

- Tình anh em là tình yêu căn bản nhất, nền tảng cho mọi kiểu mẫu tình yêu.

- Với tình anh em, tôi chỉ cho ý nghĩa về trách nhiệm, quan tâm, trọng thị, nhận thức về một con người khác nào đó, ước muốn giúp đỡ sự sống của nó.

- Tình anh em là tình yêu đối với tất cả loài người: nó có đặc điểm là không cực đoan.

- Tình anh em dựa trên cảm nghiệm rằng tất cả chúng ta đều là một.

+ Những sai biệt trong tài năng, trí năng, tri thức đều có thể bỏ qua so với đồng nhất tính của tâm điểm con người chung cho tất cả mọi người. (Xem “Sự hình thành con người” và “Lý luận không có con người” của Trần Đức Thảo).

+ Mối thân thuộc từ trung tâm tới trung tâm: Simone Weil: “Cùng lời nói ấy (thí dụ, một người nói với vợ mình: tôi yêu mình) có thể là tầm thường hay phi thường tùy theo cách nói lên của chúng. Và cung cách này dựa trên miền sâu của vùng, trong thể tính của con người mà chúng diễn tiến từ đó; không cần đến ý chí với khả năng làm một việc gì đó. Và bằng một thỏa thuận kỳ lạ chúng tiến vào vùng ấy trong kẻ đang nghe chúng” (Điều này thật ý nghĩa khi so với thế giới lý tưởng của Plato).

- Tình anh em là tình yêu giữa hai kẻ ngang hàng: nhưng sự thực, chúng ta không bình đẳng như là những kẻ ngang hàng; vì chúng ta là người nên chúng ta cần có sự giúp đỡ. (Bản chất xã hội của loài người – xem các thảo luận liên quan của K.Marx).

+ Nhưng nhu cầu giúp đỡ này không có nghĩa rằng người này thiếu sức người kia dư sức.

+ Bất hạnh là một điều kiện tạm thời; khả năng đi và đứng bằng đôi chân của chính mình là một khả năng thường trực và chung. (Liệu có liên quan gì đến những phê phán xung quanh vấn đề “luật pháp và đạo dức là khế ước của xã hội những kẻ có bản chất xấu xa” của các nhà ngụy biện Hy Lạp?)

- Tuy nhiên, tình yêu một kẻ yếu ớt; tình yêu một người nghèo, một kẻ lạ, là khởi đầu của tình anh em.

+ Chỉ trong tình yêu của kẻ nào không phục vụ cho một chủ đích, tình yêu mới bắt đầu thổ lộ.

> Cựu Ước: đối tượng trung tâm tình yêu của con người là kẻ nghèo, kẻ lạ, quả phụ và cô nhi, và cuối cùng là kẻ thù quốc gia, người Ai Cập và người Edomite.

+ Bằng lòng lân tuất với kẻ yếu ớt, con người bắt đầu phát triển tình yêu với huynh đệ mình, và trong tình yêu của nó với chính nó, nó cũng yêu kẻ đang cần giúp đỡ, kẻ bạc nhược và bất an.

> Lòng lân tuất bao hàm yếu tố nhận thức và đồng nhất hóa: Cựu Ước: “…vì bạn là những khách lạ trong lãnh thổ Ai Cập; vậy nên bạn hãy yêu khách lạ” (Dĩ chúng tâm vi kỷ tâm/Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân)

- E.F đã phát biểu với tinh thần và cung cách diễn đạt của Phương Đông. Nó đòi hỏi một sự "cảm-thông" và hướng tới "sự suy tư vô tận" về cái vô hạn, cái vô điều kiện.






Luận ngữ V.25 bản dịch NHL.

Nhan Uyên, Quý Lộ thị. Tử viết: "Hạp các ngôn nhĩ chí?".

Tử Lộ viết: "Nguyện xa mã, ý khinh cừu, dữ bằng hữu cộng, tệ chi nhi vô hám"

Nhan Uyên viết: "Nguyện vô phạt thiện, vô thi lao"

Tử Lộ viết: "Nguyện văn tử chi chí"

Tử viết: "Lão giả an chi, bằng hữu tín chi, thiếu giả hoài chi".

Dịch:

Nhan Uyên và Quí Lộ theo hầu.

Khổng Tử bảo "Sao không kể chí hướng của các anh cho ta nghe?".

Tử Lộ thưa: "Con mong có xe, ngựa, có áo lông cừu nhẹ để các bạn cùng hưởng, dù có hư nát, con cũng không hận".

Nhan Uyên thưa: "Con không muốn khoe điều hay, kể công lao con".

Tử Lộ thưa: "Xin thầy cho chúng con biết chí thầy?"

Khổng tử đáp: "(Ta muốn) các người già được an vui, các bạn bè tin lẫn nhau, các trẻ em được săn sóc vỗ về".

- Tại sao tôi lại chọn đoạn văn trên trong khi Luận Ngữ có rất nhiều đoạn nói trực tiếp về bằng hữu? Thứ nhất là bởi vì do ngẫu nhiên, nói đúng hơn là do đoạn văn này mà tôi nảy ra ý thú viết đoạn luận này. Thứ hai, qua nó, tôi muốn gợi ra phương thức suy tư vô tận để có thể thực sự "cảm - thông" được ý niệm "thông - cảm" của tình bạn làm cơ sở suy tư sâu xa hơn về tình bạn - cũng là làm cho tình bạn thực sự được khai triển, lân mẫn.

Tản mạn về chí. Người xưa nói về chí hướng với một sự thận trọng, trân trọng và đầy chú tâm. Vì sao vậy? Vì sao người ta thường nói về chí như là chí hướng? Là bởi vì chí không hoàn toàn là một mục đích cụ thể như người ta dễ lược quy nó như vậy. Trong truyền thống của triết lý điều tiết, triết lý "Trung thứ" (vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã) thì chí hướng có tính cách phát khởi, khích lệ con người ta phấn phát hơn là một đích đến. Nội dung cụ thể có thể được điều chỉnh, nhưng cái tinh thần, ý hướng hàm ngụ trong đó mới thực sự quan trọng. Nhất là trong truyền thống của lời nói gián tiếp, hàm ngụ, ẩn ý. (Phải nói thêm rằng lối đi vòng này là một lựa chọn có tính nguyên tắc chứ không phải một trào lưu thời trang diêm dúa). Ngày nay người ta chua chát nhận ra rằng: bây giờ những gì nghiêm trang quá, đúng đắn quá lại bị chuyển sang sắc thái hài hước thậm chí là hơi "sến" - như cách nói của người hiện đại. "Đời là bể khổ, tình là dây oan" - Ai hay đó là lời từ cửa Phật từ bi lân mẫn nữa? Chỉ còn lại một kiểu tán thán có phần giễu cợt! Bây giờ, trong ngôn ngữ của người VN hiện đại, người ta có phần ngượng ngập khi nói về chí và chẳng còn hỏi nhau "Chí của anh là gì?" nữa. Nó suy biến thành những câu hỏi về mục tiêu - mục tiêu luôn luôn nông cạn; và về mong muốn - mong muốn luôn luôn yếm thế. Không thể nào nói được cái sắc thái phấn phát, hướng thượng của một hoài bão khởi lên từ bên trong nữa. Thời đại của hoài nghi là như vậy - người ta chỉ biết đến hoài nghi và chờ đợi.

Chu Hy nói rằng người ta phải nghiền ngẫm những lời nói của cổ nhân. Nghiền ngẫm, chứ không chỉ đọc, người ta mới cảm nhận được cái dư vị của lời nói, cái phần không hiển ngôn của lời nói Thánh Hiền. (Từ khi con người đã quen thói lý sự, sự khích động kín đáo của một Danh sư không đủ nữa và những trường phái lao vào một cuộc tranh luận vô tận. Trong sự loạn đả tranh cãi, những điều tế vi của Đạo của cổ nhân thánh hiền bị đe doạ…(F.J). Hãy thử bắt đầu một cách chậm rãi: Nhan Hồi và Tử Lộ theo hầu Thầy". Họ noi theo và chờ đợi những chỉ dẫn, những tín hiệu từ thầy. Khổng Tử khơi nguồn từ trong chính họ "hãy nói_với_ta về chí của các anh". Tử Lộ nói trước. Ở trong văn bản, đây là một điều tinh tế. Có thể là vì Tử Lộ nhiều tuổi hơn nên Tử Lộ nói trước. Có thể vì Tử Lộ hấp tấp nên nói trước. Bề nào cũng có ngữ nghĩa của nó cả. Thời xưa, người ta không viết tuỳ tiện bao giờ. (Hãy nhớ lại câu chuyện Khổng Tử viết Xuân Thu). Cái gì quan trọng, cái gì xảy ra trước thì trình bày trước. (Vậy tại sao ngay từ đầu lại đặt tên Nhan Uyên lên trước Quí Lộ? Phải chăng trong trạng huống "theo hầu Thầy" trên con đường "Đạo" thì Nhan Uyên đang ở phía trước Quí Lộ?). Người học trò cương trực nhưng có phần kém nhạy bén kia đã thưa với thầy về những tiện nghi tượng trưng cho sự thành đạt trên quan lộ (người Trung Hoa luôn quan niệm triết lý là triết lý chính trị - tu thân là để trị nước cứu đời, con người luôn gắn chặt trong xã hội, ngay cả dù ở những trường phái cực đoan nhất cũng khởi đi từ điểm này). Điều quan trọng là Tử Lộ bày tỏ trong sự chia sẻ cụ thể với các bằng hữu - những người cùng trên con đường đạo lý của anh ta. Chúng ta giữ lời nói này trong tương quan giữa trò và thầy - người thầy chỉ dạy vê Nhân - về làm người thế nào cho phải lẽ. Từ đó có thể nhận thấy quan niệm của Tử Lộ về viễn cảnh đạt Đạo trong chiều hướng tin tưởng vào khả năng đạt tới một thái độ sống (dữ bằng hữu cộng, tệ chi nhi vô hám) nhưng trong đó còn vương vấn sự phân ly với thực tại khi dựa vào những tiêu chuẩn của thành tựu chất lượng sống (không phải mức sống). Sự phân ly này được dội lại ngay trong lời nói của Nhan Uyên "nguyện vô phạt thiện, vô thi lao". Nhan Uyên chăm chú vào thực tại nội tâm nhưng ý hướng vẫn có thể gợi ra một viễn cảnh mà đồng thời không chia tách với thực tại bởi khoe điều hay thì chưa thực hay, kể công lao thì chưa thực có công lao. Hãy đối chiếu ý kiện này với nhận định của E.F "chỉ tình yêu của một kẻ nào không phục vụ cho một chủ đích, tình yêu mới bắt đầu thổ lộ". Đây chính là điểm mà Nhan Uyên hằng dõi theo Thầy mình: "Tử tuyệt tứ: vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã". Tất cả đều khơi gợi đến viễn cảnh hoà nhịp với thực tại. (Phải ghi chú thêm rằng cũng theo Luận ngữ, Tử Lộ là người khi chưa thi hành được lời thầy dạy thì luôn sợ nghe thêm điều mới. Chúng ta so sánh, nhưng so sánh trong sự chú tâm cao độ vào không gian vang vọng lời tán thán của Bậc Hiền "Vi nhân nan - làm người khó lắm thay!"). Trong sự đạt nhân của Tử Lộ có sự phân lớp "xa mã, ý khinh cừu" là thành quả của người quân tử (người đạt nhân - tôi muốn thay bằng từ này cho nó sát với cổ nghĩa) đã trị nước, cứu dân, giúp đời. "dữ cộng bằng hữu" là một lớp nữa, "tệ chi nhi vô hám" lại là một lớp nữa - lớp cao nhất của một thái độ. Đến đây tôi chợt nhớ đến mẩu chuyện trong phần đầu của tiểu thuyết "Anh em nhà Karamazop" của F.M. Dotoiepxki. Về lời than thở của nhân vật đạo mạo với trưởng lão rằng y ta mặc dầu rất tin vào tình thương yêu con người (nói chung) của mình, nhưng càng chìm đắm trong tình thương đó, thì y ta lại càng không thể yêu thương được những con người cụ thể thường nhật. Mặc dù khập khiễng, nhưng ý niệm của Tử Lộ còn có cái gì đó như là một khuôn mẫu, một nguyên lý…là cái mà Khổng Tử không xiển dương.

Lời nói của Thánh Hiền có giá trị chỉ hiệu (valeur indicielle), mở ra sự suy tư vô tận - một "lối nói tinh tế". Ở giữa khoảng lời đáp của Nhan Uyên và câu hỏi lại của Tử Lộ với Khổng Tử có lẽ đã có một khoảng lặng. Thầy Khổng đã im lặng vì như thế là đủ. Tự sự cọ xát giữa hai lời đáp của Nhan Uyên và Tử Lộ đã đầy đủ. Chính độ chênh ấy đủ tạo ra thế năng cho sự vận hành tâm trí của các học trò trên con đường "Đạo", mà thầy Khổng đã gián tiếp tạo ra. Nhưng có lẽ hoặc là Tử Lộ không nhận ra, hoặc Tử Lộ không có chỗ bấu víu để chuyển đổi nên Tử Lộ muốn hỏi "Nguyện văn Tử chi chí?".

- "Lão giả an chi, bằng hữu tín chi, thiếu giả hoài chi". Người già an vui, bằng hữu tin cậy lẫn nhau, trẻ em được quan tâm săn sóc. Bối cảnh đã xô đẩy và chúng ta chờ đợi một hình ảnh toàn thể - bao gồm cả cái xã hội lý tưởng đáng hâm mộ của những con người đạt nhân và chính con người đạt nhân là Khổng tử. Cái điều mà chính Nhan Uyên cũng chưa rõ được. Trong lời đáp cô đọng này có quá ít chi tiết để đáp ứng yêu cầu ấy. Có thực là như vậy không. Thoạt đầu ta dễ hiểu cơ cấu ba thành phần này theo lứa tuổi: người già, người trưởng thành, và trẻ em. Nghĩa đen có vẻ như vậy. Nhưng có điều gì đó không ổn ở đây. "bằng hữu" tự nó không giới hạn ở độ tuổi nào cả. Hơn nữa, nếu triển khai theo các lát cắt, đáng lẽ ít ra chúng ta phải tìm thấy dấu vết của nhân luân, tam cương…Đó là những đặc điểm của một thiết chế xã hội mà Khổng tử muốn duy trì. Hơn nữa lại vắng bóng "ta" ở đây - thậm chí như cách dịch thì ta ở trên (ban phát) và chia tách với mọi người. Mặc dầu có vẻ hợp với vị thế của một "sư biểu" thừa mệnh trời kế chí Chu Công đi nữa thì nó vẫn thiếu sắc thái qui hướng về chính ta - người đạt nhân.

Lật sang một phía khác. "An chi", "tín chi", "hoài chi" - "được an vui", "tin cậy lẫn nhau", "được quan tâm săn sóc" từ mặt trái của các tiêu chuẩn này là những vấn đề gì? Chúng có thiết thân và phổ cập ở mức độ xã hội như là những đặc điểm vốn có của "Đạo lớn" không? Tất nhiên, ta có thể vượt qua những vấn đề của xã hội đương thời Khổng Tử và đẩy chúng đến vị trí của một khuôn mẫu xã hội lý tưởng mà ngài theo đuổi. Nhưng xem xét chúng theo những mẫu hình cũ như nhân luân, cương thường…ta thấy có cái gì đó không sát lắm. Đành rằng nó có thể diễn đạt được những điều ấy nhưng nó có phần xa rời khuynh hướng tự nội do vậy thiếu tính chất phát khởi như một nguồn sinh động của sự sống trong dòng vận hành của Tự nhiên - của Đạo.

Cơ may đến với chúng ta khi ghép hai phía khiếm khuyết này lại. Mọi sự sẽ nhất quán và có sức lan toả hơn rất nhiều khi nhìn nhận cơ cấu 3 thành phần này như 3 giai đoạn của một đời người trên con đường học Đạo tiêu biểu: thuở chưa định hướng được chí hướng của mình. Người ta chỉ mới ý thức về sự thôi thúc vươn tới Đạo lớn, nhưng còn thiếu mọi bề. (Đối chiếu với lời tự thuật của Khổng Tử: "Ngô thập hữu ngũ nhi chí ư học; tam thập nhi lập; tứ thập nhi bất hoặc; ngũ thập nhi tri thiên mệnh; lục thập nhi nhĩ thuận; thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất dụ củ" - "Ta mười lăm tuổi để chí vào việc học (đạo); ba mươi tuổi biết tự lập (tức khắc kỷ phục lễ, cứ theo lễ mà làm); bốn mươi tuổi không nghi hoặc nữa (tức là có trí đức, nên hiểu rõ ba đức nhân, nghĩa, lễ); năm mươi tuổi biết mệnh trời (biết được việc sức người làm được, việc nào không làm được); sáu mươi tuổi đã biết theo mệnh trời; bảy mươi tuổi theo lòng ham muốn của mình mà không vượt ra ngoài khuôn khổ đạo lý (không phải suy nghĩ hay gắng sức mà hành động tự nhiên, hợp đạo lý).

Vậy là theo mạch đấy có thể thấy khi còn non trẻ ("thiếu" không nhất thiết là trẻ nhỏ) để đến được với Đạo lớn, điều cần thiết nhất là có được sự khuyến khích định hướng dẫn dắt. Vào Đạo rồi (nhưng chưa đạt Đạo), con người ta còn thấy mặt này bỏ mất mặt kia…người ta cần "bằng hữu tín chi". Nó đảm bảo cho hai vế của một phương trình, một bên là tự thân người học Đạo (làm người), phần còn lại là tương quan của anh ta với xung quanh. Cuối cùng đạt Đạo rồi, người ta đạt đến sự chín muồi (lão) - sự chín muồi của tinh tấn xuyên qua thời gian sống. Phần thưởng là cái "an chi". Khỏi phải nói trong triết lý "Trung thứ" thì "an chi" chính là dấu hiệu của sự hoà nhịp và đồng điệu với Tự Nhiên - với Trời. Tựu trung lại, tự phẩm giá của 3 giai đoạn này đã gợi ra mối liên hệ theo chiều dọc, sự lưu chuyển của Đạo lớn. "Mặc nhi chí chi, học nhi bất yếm, hối nhi bất quyện, hà hữu ư ngã tai!" - Trầm mặc suy nghĩ rồi ghi vào lòng, học không chán, dạy người không mỏi, ngoài ra ta có cái gì khác đâu!

Trên cái phông nền của bạn hữu, chúng ta thấy được điều gì? Phải chăng đó là sự lân mẫn, liên thông và đồng đẳng của những nhân vị với khả năng khai triển nhân tính đến vô hạn, vô điều kiện của nó. Và trên con đường lớn chung đó người ta mới thực sự có bạn hữu, và sự tương thông làm lên phẩm giá của tín nhiệm? Nếu không thế, người ta rơi xuống bình diện của bè nhóm ("giấu cô đơn trong cảm xúc bầy đàn" @HY). Và đặc điểm nổi bật là sự đồng loã khi các xung đột chưa thực sự xảy ra. Xung đột theo hai chiều hướng: xung đột tiêu cực mù quáng ngộ nhận, sai lầm; và xung đột nội tâm xô vỡ tấm màn che mắt ta!

Cuối cùng, câu hỏi suýt trượt mất khỏi viễn tượng "lão giả an chi" vốn quá hiển nhiên và thậm chí là mờ nhạt (mờ nhạt là một phẩm giá - phẩm giá của nước, của không khí, của bao dung thể). Câu hỏi đó là "tín nhiệm" và các quan hệ bằng hữu đã chuyển hoá đi đâu trong bức tranh này? Bức tranh vốn được đưa ra đầu tiên trong dãy liệt kê chí hướng của Thầy Khổng!

Tôi thích hình ảnh thâm viễn mà Bùi Giáng sử dụng từ M. Heidegger: "Thi nhân và triết nhân đứng trong ngôn ngữ là đứng trên hai chóp núi xa biệt nhau vô cùng nhưng vòi vọi như nhau nên cùng đón nhận như nhau mọi sương tuyết phiêu bồng hiu hiu về với Chị - Chị Kiều là thiên thu Hồn Logos.." Người - điên này khích liệt quá nhưng một vẻ nào nhận thức của ông có phần đồng vọng với những điều Thầy Khổng nhận xét "Quân tử chi giao đạm như thuỷ - người đạt nhân giao tiếp với nhau đơn sơ như nước lã".