Tiện tay nhấc comment về thơ Trần Dần bên blog bạn Lê về đây vì trót viết dài, với lại để bớt hình trên giao diện entry blog. Thật lòng cụ này mình không tâm đắc nhiều nhưng không hiểu sao lại rất thích bài thơ 1 câu sau:
Mỗi người
------------thăm thẳm
-------------------------một
------------------------------chiêm bao.
=========
Phố vô lý
Hai chân chọ chẹ
Vườn hoa vô lý
Cặp đùi vô ý
Ngôi sao vô vị
Phố dài vô lễ
Chiều xanh vô nghĩa ...
Ôi chao! Thu rồi! ... Bất tử
Đại - lộ - thi - sĩ
Sương sa lia lịa
Hành trình
Chiều Vô Nghĩa
Gió thổi qua tay
Lạnh cây Bàng bé
Chiều thu cổ lỗ sĩ
Công viên đông chí
Sương sa cà khịa
Cho tôi một ngày chức năng vô lý!
Để tôi ngồi vô nghĩa nhất
Vô tri...
Đọc bài "Phố vô lý", mình thấy tất cả đều liên tục, không hề gián đoạn. Điểm quán xuyến toàn bộ là cảm thức xao xuyến, bất an đi cùng với tâm thế suy tư, phản tỉnh. Đi-trên 1 con phố-đáng ra phải đến 1 đích nào đó như phàm lệ. Nhưng khi đi chỉ để đi và dội lại trong tâm thức sự tư lự về Con Đường thì rời rạc nhắc nhở liên lỉ, trần trụi nhắc nhớ cao xanh. Hoài vọng tuyệt đối-bất tử. Nhưng cũng chỉ là Đi mà thôi. Ảnh hưởng của tinh thần tượng trưng vẫn còn nhiều nhưng tiết chế và tinh tế hơn. Cái thêm vào theo mình chính là sự trung thực với tâm thế-cảm xúc khi mà sự phản tỉnh, cái nhìn theo-rõi từng ý niệm, có hơi hướng "giễu nhại" riết róng theo từng nếp mòn tiềm tàng của tư tưởng-điều mà sẽ phát triển hơn trong bài Chiều Vô Nghĩa. Câu "Đại-lộ-thi-sĩ" nếu bỏ đi các dấu gạch sẽ nhẹ hều! Những dấu gạch tích tụ lại những vang vọng của từng ý niệm ngổn ngang từ cái vô cùng. View cuối hơi thu lại ở cái tượng trưng độc hành trong sương táp. Từ "lia lịa" láy lại cái tương quan thực tại-lý tưởng-phản tỉnh, làm cân bằng cả đoạn cuối để không bị hút vào cái đơn nghĩa về Tuyệt đối.
Chữ "Thu rồi" quả có gợi lại tính chu kỳ nhưng trong 1 tâm thế riết róng với chính sự bất an thì mình nghĩ tính chu kỳ không phải là cảm hứng chủ đạo của bài thơ-nhà thơ-này. Từng từ, từng hình ảnh, ý niệm đều dội vọng cặp đôi tâm thức bất an-hoài vọng vĩnh cửu nên tính chu kỳ trong thơ TD gần như không cần nói vì đã có rồi!
Bài "Chiều Vô Nghĩa" là sự tiếp nối cái tâm thức xếp lớp bộ 3 thực tại-siêu hình-phản tỉnh ở trên đã nói (cái siêu hình đôi khi gần như trùng nấp sau cái thực tại có tính tượng trưng). Có điều mặc dù đã có 1 thực tại cụ thể "Gió thổi qua tay " để mở đầu và ý niệm "Vô tri" để giải toả cho sự đơn điệu 1 chiều chung của cả bài nhưng ở đây khác với Lê, mình chỉ thấy toàn bài là 1 sự xoay sở mỏi mệt với thực tại và lý tưởng của tác giả. Chữ "vô tri" thậm chí còn phản lại dụng ý xoay sở của tác giả-nó chỉ đem lại cho mình cảm giác trơ cứng, vật vạ. Bảo là tác giả dụng tâm tái tạo lại trong người đọc cảm xúc của mình thì đúng là ông thành công. Nhưng điểm chung của cả 2 bài thơ này làm mình không thích lắm chính là gờn gợn cái cảm giác đối diện với 1 con người mệt mỏi với chính mình trong quyết liệt. Cái thiêu thiếu của tính thơ-như thông thường-điều làm cho những bài thơ của TD có nguy cơ giống những bức hoạ hoặc những băng ghi âm chính là sự hé lộ cho thấy sự thoát vượt của tinh thần nội tâm TD-trong khi về mặt kỹ thuật quả thực có những nỗ lực rất ghê gớm.
Nhưng cũng phải nói, điều làm cho bài "Phố vô lý" thơ hơn bài sau (theo mình thôi) chính vì nó hình thức gần với thể Hứng trong thơ cổ (Kinh Thi). Mặc dù sự liên tục trong logic cảm xúc làm cho nó có bản chất gần với thể Tỷ nhưng chính sự đứt đoạn hình thức làm nó giống thể Hứng-khi mà cảnh có vẻ không ăn nhập với tình. Bảo mới thì Kinh Thi cũng có cái mới ấy. Cho nên mình không hứng thú lắm với những khái quát quá to lớn về những thứ như thơ chẳng hạn. Bình về 1 bài thơ tốt nhất hãy hoạ lại 1 bài-hoặc 1 cái gì đó như thơ.
Phê bình thơ có cái gì đó "đúng nhưng mà không hay" :P
Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2009
Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2009
Entry for January 31, 2009
Rượu biêng biêng, loáng thoáng thấy TV đang có "Tiếu ngạo giang hồ" đến hồi cuối. Nhạc Linh San chết. Ninh nữ hiệp suy sụp. Tự nhiên bâng khuâng: vì sao Nhạc tiểu muội nhất quyết không hận họ Lâm? Vì sao Ninh nữ hiệp đáng thương cảm vậy? Có phải vì Nhạc tiểu muội đã có tất cả, chỉ thiếu cái kinh nghiệm, cảm giác, tình cảm được bao bọc, yêu thương kẻ yếu? Lâm Bình Chi đáng thương đáng hận rốt cuộc chỉ là 1 kẻ yếu đuối không may. Nhạc Linh San đã hoàn thành được tâm nguyện của mình trong đơn côi.
Nhưng sao cuộc đời lại bất công với Ninh Trung Tắc khảng khái cứng cỏi đến thế? Con gái bà chết còn có chút nguyện ý nhưng nữ hiệp thì thực không cam lòng sống! Không thể, không còn biết bấu víu vào điều gì. Có phải vì cứng cỏi quá thì tất gãy nát? Còn có phải tại vì nhân gian cứ hằng bám víu vào ảo tưởng vĩnh cửu "ở hiền gặp lành, người tốt cũng mạnh, ta thắng địch thua..." nên mới thấy thương cảm đến vậy?
Có phải vì
Chư vị bạn hữu, mình đã vui sướng nhận và đọc tin của các bạn. Nhưng xin viện Vương Ma Cật để khất các bạn những trao đổi đầu xuân vào entry sau nhé :)
Quân tự cố hương lai
Ưng tri cố hương sự
Lai nhật ỷ song tiền
Hàn mai trước hoa vị.
Người từ quê cũ đến
Hẳn biết những chuyện ở quê nhà
Ngày đi qua trước cửa buồng thêu
Có thấy hàn mai nở hoa không?
Nhưng sao cuộc đời lại bất công với Ninh Trung Tắc khảng khái cứng cỏi đến thế? Con gái bà chết còn có chút nguyện ý nhưng nữ hiệp thì thực không cam lòng sống! Không thể, không còn biết bấu víu vào điều gì. Có phải vì cứng cỏi quá thì tất gãy nát? Còn có phải tại vì nhân gian cứ hằng bám víu vào ảo tưởng vĩnh cửu "ở hiền gặp lành, người tốt cũng mạnh, ta thắng địch thua..." nên mới thấy thương cảm đến vậy?
Có phải vì
"Cuộc đời chỉ là một bóng ma mơ hồ, với những thằng hề lơ láo múa rối loăng quăng một giờ ngắn ngủi rồi vĩnh viễn đi vào trong vắng lặng; đời là một câu chuyện oái oăm được kể lại bởi một thằng ngu loạn trí, câu chuyện tràn đầy loạn cuồng dơ bẩn, ồn ào hò hét tuênh toang hoàn toàn vô nghĩa."
(Bùi Giáng-Shakespeare)
Chư vị bạn hữu, mình đã vui sướng nhận và đọc tin của các bạn. Nhưng xin viện Vương Ma Cật để khất các bạn những trao đổi đầu xuân vào entry sau nhé :)
Quân tự cố hương lai
Ưng tri cố hương sự
Lai nhật ỷ song tiền
Hàn mai trước hoa vị.
Người từ quê cũ đến
Hẳn biết những chuyện ở quê nhà
Ngày đi qua trước cửa buồng thêu
Có thấy hàn mai nở hoa không?
Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2009
Entry for January 23, 2009
Tôrei (1721-1792)
Ensô
Mực trên giấy, 32,5 x 44,3
Sưu tập tư nhân.
(Trích từ Nghệ thuật Zen).
Ensô
Mực trên giấy, 32,5 x 44,3
Sưu tập tư nhân.
(Trích từ Nghệ thuật Zen).
Blogging cuối năm
1. Blog của năm.
Sau năm bùng nổ 2007 thì có vẻ 2008 là 1 năm thế giới blog đi vào bình lặng-cái vẻ bình lặng nội tâm. Có vẻ ít đi những entry lao xao ba lap thường ngày hơn-ngoại trừ những siêu sao thực sự, những người có khả năng đem lại sự thư giãn giải trí cao độ cho người khác. Có vẻ nhiều người từ bỏ blog. Nhưng những blogger hấp dẫn thì ngày càng hấp dẫn hơn :)
Blog đem lại cho ta khả năng giao tiếp rộng hơn, sâu hơn và tinh tế hơn. Không kể cái nguy cơ gây ra tình trạng xao xác mất tập trung và chứng nghiện thì chỉ riêng khả năng làm cho chúng ta có thể chia sẻ với nhau những điều sâu lắng trong nội tâm-những điều mà thật khó để nói với nhau trong ngữ cảnh cuộc sống thường nhật hàng ngày, cho dù chúng ta thân thiết đến bao nhiêu. Bây giờ đâu còn có thể "thanh đàm" như thời của Lưu Linh, Nguyễn Tịch? Bây giờ là thời của cóp nhặt và giễu nhại (kể cả tự giễu nhại).
Trong FL của mình có khoảng 100 blog, nhưng thực sự theo dõi thường xuyên thì chỉ khoảng chưa đến 10 blog. Do xu hướng tìm kiếm (và quan niệm) điều gọi là con người ta phải trọn vẹn trong tất cả những biểu hiện của mình nên mình thường quan tâm đến những blog nào thể hiện nhiều khía cạnh và biểu hiện 1 cá nhân cụ thể hơn là những blog chỉ thiên về 1 chuyên môn-tuy vẫn theo dõi. Kể ra thì trạng thái này cũng thỉnh thoảng thay đổi tuỳ tâm cảnh, lúc thiên về điều này lúc thiên về điều kia. Nhưng nếu blog nào không hứa hẹn điều gì từ tâm thế của blogger đó, "không hạp đạo" thì thường là mình không theo dõi nữa-cho dù có tính giải trí đến đâu.
Cũng lười không xem lại xem tất niên năm ngoái nói gì, có lặp lại không nhưng ngoài những điều đã cũ thì năm nay xin tiến cử 1 blog mới mà mình tự bình bầu là blog của năm trong Favorite List của mình. Blog's Cavenui. Thời sự. Vừa vặn. Đầy đủ. Thông minh.
http://360.yahoo.com/profile-i.U6an4yerAX8Y8GHAJtCrw-?cq=1
Các bác cựu hoa hậu đừng buồn. Đỗ rồi thì thôi nhé :P
2. Dự định
Kể ra thì mình cũng thuộc loại lắm lời, viết dai. Các bạn thông cảm, mình cô đơn lắm :( Tự nhìn nhận thì mình cho rằng blog của mình gần với 2 loại đầu (lao xao, thư giãn) nhưng cũng đang cố gần thêm chút với loại sau (có nội dung). Bây giờ nhớn rồi nên cũng dự định điều chỉnh 1 chút về định hướng blog (không do ảnh hưởng của Thông tư chết toi gì đâu :) của mình. Dự định là bên cạnh các entry theo trường phái "Bí hiểm chủ nghĩa, vu vơ trường phái", mình sẽ luyện tập việc viết về những vấn đề ngắn gọn rõ ràng có nội dung theo 1 vài chủ đề nhất định mà mình có quan tâm và hiểu biết nhất định.
3. Hỏi han cuối năm
Vậy nếu không hiềm gì, bạn có thể cho mình biết: bạn quan tâm điều gì khi đọc blog của mình? Dù gì mình để ý thấy hình như có khoảng hơn 100 lượt xem/ngày blog của mình những lúc cao điểm. Giá mà quen biết thân thiết với tất cả nhỉ?
Mình cũng có tính xấu là ít khi comment nên quả báo cũng ít người comment blog mình. Cũng biết là "vu vơ thế thì bố ai biết comment thế nào?". Nhưng hôm nay rất chân phương và rõ ràng, rất thiết tha mình muốn:
- Chào hỏi và chúc tết tất cả mọi người. Chúc tết các bạn xa xứ. Chúc tết các bạn tại xứ. Chúc các bạn bình an.
- Các bạn để lại 1 comment được hôn :) Mình về quê ăn Tết, hy vọng sang Xuân mở blog ra nhận được thật nhiều lì xì comment. Bạn nào thân ái tặng thêm invite as a friend thì càng thích.
Mình hứa sẽ lì xì lại các bạn.
Cheers!
Sau năm bùng nổ 2007 thì có vẻ 2008 là 1 năm thế giới blog đi vào bình lặng-cái vẻ bình lặng nội tâm. Có vẻ ít đi những entry lao xao ba lap thường ngày hơn-ngoại trừ những siêu sao thực sự, những người có khả năng đem lại sự thư giãn giải trí cao độ cho người khác. Có vẻ nhiều người từ bỏ blog. Nhưng những blogger hấp dẫn thì ngày càng hấp dẫn hơn :)
Blog đem lại cho ta khả năng giao tiếp rộng hơn, sâu hơn và tinh tế hơn. Không kể cái nguy cơ gây ra tình trạng xao xác mất tập trung và chứng nghiện thì chỉ riêng khả năng làm cho chúng ta có thể chia sẻ với nhau những điều sâu lắng trong nội tâm-những điều mà thật khó để nói với nhau trong ngữ cảnh cuộc sống thường nhật hàng ngày, cho dù chúng ta thân thiết đến bao nhiêu. Bây giờ đâu còn có thể "thanh đàm" như thời của Lưu Linh, Nguyễn Tịch? Bây giờ là thời của cóp nhặt và giễu nhại (kể cả tự giễu nhại).
Trong FL của mình có khoảng 100 blog, nhưng thực sự theo dõi thường xuyên thì chỉ khoảng chưa đến 10 blog. Do xu hướng tìm kiếm (và quan niệm) điều gọi là con người ta phải trọn vẹn trong tất cả những biểu hiện của mình nên mình thường quan tâm đến những blog nào thể hiện nhiều khía cạnh và biểu hiện 1 cá nhân cụ thể hơn là những blog chỉ thiên về 1 chuyên môn-tuy vẫn theo dõi. Kể ra thì trạng thái này cũng thỉnh thoảng thay đổi tuỳ tâm cảnh, lúc thiên về điều này lúc thiên về điều kia. Nhưng nếu blog nào không hứa hẹn điều gì từ tâm thế của blogger đó, "không hạp đạo" thì thường là mình không theo dõi nữa-cho dù có tính giải trí đến đâu.
Cũng lười không xem lại xem tất niên năm ngoái nói gì, có lặp lại không nhưng ngoài những điều đã cũ thì năm nay xin tiến cử 1 blog mới mà mình tự bình bầu là blog của năm trong Favorite List của mình. Blog's Cavenui. Thời sự. Vừa vặn. Đầy đủ. Thông minh.
http://360.yahoo.com/profile-i.U6an4yerAX8Y8GHAJtCrw-?cq=1
Các bác cựu hoa hậu đừng buồn. Đỗ rồi thì thôi nhé :P
2. Dự định
Kể ra thì mình cũng thuộc loại lắm lời, viết dai. Các bạn thông cảm, mình cô đơn lắm :( Tự nhìn nhận thì mình cho rằng blog của mình gần với 2 loại đầu (lao xao, thư giãn) nhưng cũng đang cố gần thêm chút với loại sau (có nội dung). Bây giờ nhớn rồi nên cũng dự định điều chỉnh 1 chút về định hướng blog (không do ảnh hưởng của Thông tư chết toi gì đâu :) của mình. Dự định là bên cạnh các entry theo trường phái "Bí hiểm chủ nghĩa, vu vơ trường phái", mình sẽ luyện tập việc viết về những vấn đề ngắn gọn rõ ràng có nội dung theo 1 vài chủ đề nhất định mà mình có quan tâm và hiểu biết nhất định.
3. Hỏi han cuối năm
Vậy nếu không hiềm gì, bạn có thể cho mình biết: bạn quan tâm điều gì khi đọc blog của mình? Dù gì mình để ý thấy hình như có khoảng hơn 100 lượt xem/ngày blog của mình những lúc cao điểm. Giá mà quen biết thân thiết với tất cả nhỉ?
Mình cũng có tính xấu là ít khi comment nên quả báo cũng ít người comment blog mình. Cũng biết là "vu vơ thế thì bố ai biết comment thế nào?". Nhưng hôm nay rất chân phương và rõ ràng, rất thiết tha mình muốn:
- Chào hỏi và chúc tết tất cả mọi người. Chúc tết các bạn xa xứ. Chúc tết các bạn tại xứ. Chúc các bạn bình an.
- Các bạn để lại 1 comment được hôn :) Mình về quê ăn Tết, hy vọng sang Xuân mở blog ra nhận được thật nhiều lì xì comment. Bạn nào thân ái tặng thêm invite as a friend thì càng thích.
Mình hứa sẽ lì xì lại các bạn.
Cheers!
Bài nói chuyện về Thiết kế cảnh quan-Paysage
Rà soát lại các ghi chép thấy có mấy thứ thú vị, đây là nội dung ghi chép tóm tắt từ 1 bài nói chuyện về paysage-cảnh quan của 1 paysagiste Bỉ, các bạn KTS có thể tham khảo. Nội dung ngắn gọn nhưng khá tổng thể và rõ ý về quan điểm/phương pháp luận/kỹ thuật/hiệu quả. Tôi sẽ còn quay lại với chủ đề này với mong muốn chia sẻ trao đổi với những bạn quan tâm và tóm tắt những kiến thức căn bản dễ xử lý đối với cả người nghiệp dư :)
-----------------
1. Khái niệm lịch sử
- Bắt đầu từ thời Phục Hưng, paysage xuất hiện trong các khung tranh chân dung như là 1 bối cảnh. VD với Leonardo de Vinci. Đặc điểm: 1 đối tượng, 1 cách nhìn.
2. K/n đương đại
- Cách chúng ta nhìn: cái nhìn chủ quan-> biến đổi tuỳ theo đối tượng quan sát và bị ảnh hưởng bởi văn hoá của người quan sát.
- Hình ảnh ta nhìn thấy chỉ là 1 phần của phong cảnh: nó bị giới hạn bởi khung nhìn, tầm nhìn và thay đổi theo chuyển động của mắt.
-> Cảnh quan biểu hiện văn hoá vùng đất, cái được nhìn phụ thuộc văn hoá người nhìn.
-> Có những yếu tố rõ ràng với người này nhưng không rõ ràng với người khác.
- Cảnh quan biến đổi theo mùa-yếu tố thời gian.
- Cảnh quan không quan tâm/không có ranh giới-con người sống trong đó-nó biến đổi trong không gian (kể cả trong lòng đất/bắt nguồn từ lòng đất).
- Cảnh quan xây dựng cảm xúc.
- Cây xanh là dấu hiệu của sự hiện diện của nước-ngay cả khi không có nước mặt.
*Nhận diện khu vực:
- Địa mạo & cây xanh-mặt nước.
-Hoà mình cảm nhận cảnh quan. (Cảnh quan thay đổi theo chuyển động của người nhìn, cảnh quan là hình ảnh chủ quan).
3. Cách nhìn đương đại về cảnh quan
- Cảnh quan là sự chồng lớp của thời gian: ngày hôm qua giải thích ngày hôm nay.
- Đồ án thiết kế (cảnh quan) là lồng vào trong quá trình -> sự cần thiết hiểu biết quá trình để xác nhận tính hợp lý của đồ án-mối liên hệ giữa con người và thiên nhiên.
- Cây xanh: kiến tạo không gian/thay đổi theo thời gian/liên hệ với con người.
- Ẹnjeu: hoà hợp với thiên nhiên hay chinh phục thiên nhiên.
- Cảnh quan có tính nhạy cảm: nhất thời và biến đổi. Tính thời gian rất quan trọng. (Liên quan đến vật liệu của cảnh quan là cây xanh).
- Không gian có thể từ mở sang đóng theo: (1) Chu kỳ của thực vật (nhiều năm), (2) hay theo đối tượng (hoa, quả), (3) hay theo mùa.
->> Trách nhiệm của con người với tương lai xa.
*Tóm tắt: Kiến tạo cảnh quan phụ thuộc:
(1) Quan điểm,
(2) phông văn hoá,
(3) tính thời gian-tiến trình,
(4) trách nhiệm.
--------------
Giới thiệu 1 dự án ở Lille-tìm lại bản sắc.
1. Liên hệ vùng:
- Vấn đề qui mô vùng: cửa ngõ ra châu Âu.
-> Đặc trưng: đa tâm-trung tâm cổ-trung tâm vệ tinh-trung tâm đại học. Qui mô thành phố: cấp 4 (Pháp). Qui mô vùng: chỉ sau Paris.
-> Ẹnjeu: Khôi phục lại vị thế của Lille. (Tỷ lệ thất nghiệp cao).
- Tuyến TVG quốc tế chạy qua Lille (1986), ga đặt ở trung tâm: động lực phát triển trung tâm tầm cỡ châu Âu.
2. Còn 1 vùng đất hoang 120ha nằm ở trung tâm (đất cổ)
- Mô hình kết hợp đầu tư giữa NN và khối tư nhân.
- Cuộc thi quốc tế: tầm nhìn vượt ra ngoài khu vực. Chú trọng phát triển hạ tầng. Chú trọng phát triển tiện nghi đô thị.
- Giữa 2 khu vực: sự đứt đoạn về tỷ lệ và phong cảnh.
3. Giới thiệu dự án: 3ha.
- Các hình ảnh đặc trưng, tiêu biểu->nhận diện khu vực.
- Tiếp nối 1 khu vực khác thường, gián đoạn!
->Kết nối không gian.
- Vai trò của ga TGV.
*Thú vị:
- Sự đa dạng, nhập nhằng không gian-thêm mặt bằng->nhìn từ trên cao.
- Khung cảnh với nền cây lớn.
*Mục tiêu:
- Giữ cây to. (Đánh giá cây bị bệnh)
- Xây được 50.000m2.
*Sơ đồ đánh giá hiện trạng:
- Loại cây, kích thước, hình dáng.
- Tình trạng cây.
- Sự liên kết.
-> Liên quan đến các lớp đất bên dưới.
-> Sơ đồ cây giữ lại.
-> Sơ đồ phân biệt cây xanh và đất trống.
-> Phân loại cây: cây to độc lập/cây thấp kết mảng->cấu trúc thú vị.
- 3 yếu tố thành phần: điểm/tuyến/mảng
- Cao độ: phải giữ lại cao độ để bảo tồn cây.
- Cơ sở xây dựng: mặt bằng tổng thể, mặt cắt dự kiến địa hình.
- Do sự đa dạng của mặt cắt->cách hoạt động trong cấu trúc công năng nhà->biến đổi đa dạng.
-> Liên quan thiết kế cả mặt bằng cây xanh tầng mái.
-> Tạo ra đặc trưng nhỏ của từng khu vực.
- 2 tuyến giao thông ô tô và đường zigzag đi bộ.
->Nhiều cách tiếp cận không gian xanh.
- Sự đa dạng của cấu trúc mặt nền: cây trồng sẵn làm thay đổi cách trồng cây. Tính toán phương án cho 30 năm sau: cùng phát triển.
-> Bảo vệ cây trong quá trình thi công công trình.
-> Nhiều hạng mục cây xanh liên kết khu vực.
- Ví dụ về hiệu quả thị giác như 1 công trình điêu khắc: Hình và nền/Bóng đổ/mảng+diện+chất cảm vật liệu/tỷ lệ.
-> đưa vào mặt đứng công trình: mặt đứng công trình làm nền cho cây xanh.
-> hình ảnh tương lai của phong cảnh: khi cây lớn lên và liên kết phong cảnh.
-> Vấn đề thoát nước bề mặt.
- Ví dụ: không gian đường dạo thay cho không gian quảng trường:
-> Thay đổi cảnh quan
-> Thích hợp tỷ lệ công trình
-> Gần gũi với con người
- Các lớp cây phong cảnh.
- Sử dụng chất liệu khác nhau: có thể giúp thấm nước và thay đổi màu sắc.
- Khu vực trồng cây tạo thành tuyến sau này. (Yếu tố tạo tuyến).
-----------------
1. Khái niệm lịch sử
- Bắt đầu từ thời Phục Hưng, paysage xuất hiện trong các khung tranh chân dung như là 1 bối cảnh. VD với Leonardo de Vinci. Đặc điểm: 1 đối tượng, 1 cách nhìn.
2. K/n đương đại
- Cách chúng ta nhìn: cái nhìn chủ quan-> biến đổi tuỳ theo đối tượng quan sát và bị ảnh hưởng bởi văn hoá của người quan sát.
- Hình ảnh ta nhìn thấy chỉ là 1 phần của phong cảnh: nó bị giới hạn bởi khung nhìn, tầm nhìn và thay đổi theo chuyển động của mắt.
-> Cảnh quan biểu hiện văn hoá vùng đất, cái được nhìn phụ thuộc văn hoá người nhìn.
-> Có những yếu tố rõ ràng với người này nhưng không rõ ràng với người khác.
- Cảnh quan biến đổi theo mùa-yếu tố thời gian.
- Cảnh quan không quan tâm/không có ranh giới-con người sống trong đó-nó biến đổi trong không gian (kể cả trong lòng đất/bắt nguồn từ lòng đất).
- Cảnh quan xây dựng cảm xúc.
- Cây xanh là dấu hiệu của sự hiện diện của nước-ngay cả khi không có nước mặt.
*Nhận diện khu vực:
- Địa mạo & cây xanh-mặt nước.
-Hoà mình cảm nhận cảnh quan. (Cảnh quan thay đổi theo chuyển động của người nhìn, cảnh quan là hình ảnh chủ quan).
3. Cách nhìn đương đại về cảnh quan
- Cảnh quan là sự chồng lớp của thời gian: ngày hôm qua giải thích ngày hôm nay.
- Đồ án thiết kế (cảnh quan) là lồng vào trong quá trình -> sự cần thiết hiểu biết quá trình để xác nhận tính hợp lý của đồ án-mối liên hệ giữa con người và thiên nhiên.
- Cây xanh: kiến tạo không gian/thay đổi theo thời gian/liên hệ với con người.
- Ẹnjeu: hoà hợp với thiên nhiên hay chinh phục thiên nhiên.
- Cảnh quan có tính nhạy cảm: nhất thời và biến đổi. Tính thời gian rất quan trọng. (Liên quan đến vật liệu của cảnh quan là cây xanh).
- Không gian có thể từ mở sang đóng theo: (1) Chu kỳ của thực vật (nhiều năm), (2) hay theo đối tượng (hoa, quả), (3) hay theo mùa.
->> Trách nhiệm của con người với tương lai xa.
*Tóm tắt: Kiến tạo cảnh quan phụ thuộc:
(1) Quan điểm,
(2) phông văn hoá,
(3) tính thời gian-tiến trình,
(4) trách nhiệm.
--------------
Giới thiệu 1 dự án ở Lille-tìm lại bản sắc.
1. Liên hệ vùng:
- Vấn đề qui mô vùng: cửa ngõ ra châu Âu.
-> Đặc trưng: đa tâm-trung tâm cổ-trung tâm vệ tinh-trung tâm đại học. Qui mô thành phố: cấp 4 (Pháp). Qui mô vùng: chỉ sau Paris.
-> Ẹnjeu: Khôi phục lại vị thế của Lille. (Tỷ lệ thất nghiệp cao).
- Tuyến TVG quốc tế chạy qua Lille (1986), ga đặt ở trung tâm: động lực phát triển trung tâm tầm cỡ châu Âu.
2. Còn 1 vùng đất hoang 120ha nằm ở trung tâm (đất cổ)
- Mô hình kết hợp đầu tư giữa NN và khối tư nhân.
- Cuộc thi quốc tế: tầm nhìn vượt ra ngoài khu vực. Chú trọng phát triển hạ tầng. Chú trọng phát triển tiện nghi đô thị.
- Giữa 2 khu vực: sự đứt đoạn về tỷ lệ và phong cảnh.
3. Giới thiệu dự án: 3ha.
- Các hình ảnh đặc trưng, tiêu biểu->nhận diện khu vực.
- Tiếp nối 1 khu vực khác thường, gián đoạn!
->Kết nối không gian.
- Vai trò của ga TGV.
*Thú vị:
- Sự đa dạng, nhập nhằng không gian-thêm mặt bằng->nhìn từ trên cao.
- Khung cảnh với nền cây lớn.
*Mục tiêu:
- Giữ cây to. (Đánh giá cây bị bệnh)
- Xây được 50.000m2.
*Sơ đồ đánh giá hiện trạng:
- Loại cây, kích thước, hình dáng.
- Tình trạng cây.
- Sự liên kết.
-> Liên quan đến các lớp đất bên dưới.
-> Sơ đồ cây giữ lại.
-> Sơ đồ phân biệt cây xanh và đất trống.
-> Phân loại cây: cây to độc lập/cây thấp kết mảng->cấu trúc thú vị.
- 3 yếu tố thành phần: điểm/tuyến/mảng
- Cao độ: phải giữ lại cao độ để bảo tồn cây.
- Cơ sở xây dựng: mặt bằng tổng thể, mặt cắt dự kiến địa hình.
- Do sự đa dạng của mặt cắt->cách hoạt động trong cấu trúc công năng nhà->biến đổi đa dạng.
-> Liên quan thiết kế cả mặt bằng cây xanh tầng mái.
-> Tạo ra đặc trưng nhỏ của từng khu vực.
- 2 tuyến giao thông ô tô và đường zigzag đi bộ.
->Nhiều cách tiếp cận không gian xanh.
- Sự đa dạng của cấu trúc mặt nền: cây trồng sẵn làm thay đổi cách trồng cây. Tính toán phương án cho 30 năm sau: cùng phát triển.
-> Bảo vệ cây trong quá trình thi công công trình.
-> Nhiều hạng mục cây xanh liên kết khu vực.
- Ví dụ về hiệu quả thị giác như 1 công trình điêu khắc: Hình và nền/Bóng đổ/mảng+diện+chất cảm vật liệu/tỷ lệ.
-> đưa vào mặt đứng công trình: mặt đứng công trình làm nền cho cây xanh.
-> hình ảnh tương lai của phong cảnh: khi cây lớn lên và liên kết phong cảnh.
-> Vấn đề thoát nước bề mặt.
- Ví dụ: không gian đường dạo thay cho không gian quảng trường:
-> Thay đổi cảnh quan
-> Thích hợp tỷ lệ công trình
-> Gần gũi với con người
- Các lớp cây phong cảnh.
- Sử dụng chất liệu khác nhau: có thể giúp thấm nước và thay đổi màu sắc.
- Khu vực trồng cây tạo thành tuyến sau này. (Yếu tố tạo tuyến).
Thứ Tư, 21 tháng 1, 2009
Hiểu theo lối trước là chẳng phải
http://dantri.com.vn/c20/s20-304607/cau-sieu-cho-cac-huong-hon-tai-cho-1912.htm
Cầu siêu ở chợ 19/12.
Chỉ cần google với từ khoá "cầu siêu" sẽ điểm lại 1 loạt "đại lễ" trong 1, 2 năm vừa qua. Việc không có gì đáng nói nếu nó không được hậu thuẫn từ chính quyền và báo chí gây cho người ta cảm giác đấy là 1 việc đương nhiên của PG.
Trong thời đại khủng hoàng niềm tin, có vẻ ĐCS muốn đồng nhất với những giá trị tôn giáo chăng, cụ thể ở đây là PG. Người ta xưng tụng Hương Vân Đầu Đà, Trúc Lâm Đầu Đà, Điều Ngự Giác Hoàng thành Phật Hoàng. Tôi không hiểu tường tận nghĩa Hán tự của từ này lắm nhưng điều đó cho thấy người ta vô tình hoặc cố ý muốn nhấn mạnh cái khía cạnh vua-phật phật-vua của ngài. Một đại lễ hoàng tráng kỷ niệm 700 năm ngày mất của "Phật Hoàng". Trăm người biết vạn người hay. Không biết liệu có bao nhiêu người muốn và có tìm hiểu về những ngày cuối đời của "Phật Hoàng" còn ghi lại rõ ràng trong chính sử cũng như phật sử? Đọc đối chiếu giữa những ghi chép trong "Đại Việt sử ký" và trong "Thánh đăng ngữ lục" (theo Trần Nhân Tông toàn tập-Lê Mạnh Thát) gợi ra nhiều điều thú vị đáng suy nghĩ.
Các nhà Phật học nhiệt tình thường rất ủng hộ những Thiền phả liên tục và lâu dài được ghi trong các tài liệu Phật sử. Ví dụ như hầu hết các vua và đại thần triều Lý đều nằm trong dòng truyền thừa "tâm truyền tâm" của các thiền phái bắt rễ đến tận Lục tổ Huệ Năng (coi như chưa kể 28 chư Tổ truyền đăng từ Bồ đề Đạt Ma). Căn cứ vào hành trạng của họ (vua quan triều Lý) còn ghi trong sử, lại đối chiếu với những gian nan sinh tử để giác ngộ còn ghi trong Thiền sử (Trung Hoa và Nhật Bản) tôi hoài nghi sâu sắc mức độ giác ngộ của những Thiền sư-hành chính này. Có thể đó là sự giảm nhẹ tiêu chuẩn giác ngộ trong thời Tượng pháp. Có thể là sự tô vẽ của những môn đồ nhiệt tâm cuồng tín đời sau. Có thể sự tỏ ngộ là phổ biến, nhưng giác ngộ sâu sắc để được đưa vào mạng mạch truyền đăng thì tôi hoài nghi những điều ghi chép đó.
Lẽ tự nhiên khi mới tìm hiểu về Trần Nhân Tông tôi cũng tiếp tục giữ sự hoài nghi như vậy về yếu tố chính trị-tôn giáo trong giới cầm quyền. Trong khi thực sự tôi lại rất tin tưởng vào những tri kiến của Trần Thái Tông còn ghi trong ngữ lục-vị vua khá thầm lặng khi so với Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông. Nhưng khi đọc về những ngày cuối đời của Trúc Lâm Đầu Đà được ghi trong sử và trong ngữ lục thì chính từ những độ vênh của 2 văn bản lại đem cho tôi thêm nhiều tin tưởng nhiệt tình. Bỏ qua những chi tiết tô vẽ trong Thánh đăng ngữ lục đượm màu huyền thoại hoá của đời sau thì ít nhất ta biết được mấy sự kiện này:
- Từ sau khi xuất gia, hành trạng của Thượng hoàng Trần Nhân Tông ngày càng ít can thiệp vào việc triều chính và chuyên chú trong hạnh đầu đà. Người ngày nay khi trèo lên sườn Tây của dãy Yên Tử (chính là khu vực mới phát lộ gần đây bên phía tỉnh Bắc Giang, cũng chính là cơ sở chính thời Trần của Trúc lâm phái) còn thấy cheo leo thế nào thì hẳn chúng ta thêm kính mộ việc Trúc Lâm Đầu Đà thực hiện thệ nguyện chỉ đi bộ, từ bỏ võng kiệu, ngựa xe.
- Hoạt động của Trúc Lâm thiền phái không hẳn được triều đình và giới trí thức Nho gia thông hiểu hoàn toàn cũng như ủng hộ sâu xa. Một mặt PG vẫn giữ ảnh hưởng lên đời sống quốc gia nhưng ở bình diện 1 thứ tôn giáo hình thức chứ không phải người người thâm chứng, nhà nhà giác ngộ như mô tả đời Lý. Một mặt trong thiền phái những mô tả còn lại cho thấy thực sự tồn tại 1 đời sống đào luyện tâm linh rất miên mật khắt khe theo đúng tông phong.
- Pháp Loa và các đệ tử thậm chí đã hoả thiêu vị Trúc Lâm Đầu Đà theo đúng các nghi thức PG trước khi thông báo về triều đình. Thật là 1 sự kiện kỳ lạ và khá tự tiện! Chính sử còn ghi lại sự giận dữ và nghi ngờ của triều đình trước hành vi của Pháp Loa và chỉ khi có 1 sự kiện có tính chất mầu nhiệm (thấy xá lợi trong áo hoàng tử Mạnh-Trần Minh Tông sau này) mới hoá giải được tình thế. Dù thế nào ta cũng ghi nhận 1 sự kiện là giới PG Trúc Lâm đã hành xử trên 1 thái độ rất xuất thế gian! Và cũng không khí của những sự kiện này cho thấy bắt đầu bàng bạc dấu hiệu suy tàn của thời "tâm truyền tâm" trong thiền phái.
Thời mạt pháp vạn sự đảo điên. Với cái nhìn của người học Phật, tôi thực sự nghĩ rằng nếu Đầu Đà có biết được, ngài cũng bó tay với sự màu mè vô lối của hậu thế. Heidegger đã từng nói đại ý "khi 1 tư tưởng bị ngộ nhận và mọi việc trở lên đảo điên thị phi thì duy nhất chỉ có thể sửa chữa chính bằng 1 lối tư tưởng chân chính và tận căn nguyên". Dầu sao đi nữa phải nhận rằng thời đại này là thời đại mà "tác giả đã chết!" đó sao?
Quay lại chuyện chính quyền và tôn giáo ở VN ngày nay, đừng nói tại sao Công giáo VN lại có phản ứng mặc cảm thiểu số với chính quyền. Gần đây những việc tưởng như đương nhiên này có phần bị lạm dụng. PG đang có vẻ muốn trở thành 1 thứ quốc giáo chăng. Nhẹ nhàng hơn thì người ta gọi là PG "mặt trận", sư "mặt trận". Trong cuốn "Nguồn gốc văn minh" của W.Durant, tác giả có nhận xét rằng một nền văn minh muốn ổn định và phát triển thì cần có tôn giáo, để người ta tin vào những điều cao siêu, huyền bí-để đạo đức được tuân thủ như là 1 nghĩa vụ chứ không phải là kết quả của toan tính. Nhìn lâu vào giữa 2 hàng chữ, khi mà tôn giáo đồng nhất với mê tín dân gian, khi mà cả xã hội phải đồng thanh học tập gương đạo đức của 1 cá nhân cụ thể thay vì những nguyên tắc công chính-thì phải chăng xã hội đó đã xuất hiện những chỉ dấu đáng lo ngại về sự khủng hoảng và suy tàn từ trong căn cốt?
.....
(trích Bài giảng tại chùa Sùng Nghiêm)
Cầu siêu ở chợ 19/12.
Chỉ cần google với từ khoá "cầu siêu" sẽ điểm lại 1 loạt "đại lễ" trong 1, 2 năm vừa qua. Việc không có gì đáng nói nếu nó không được hậu thuẫn từ chính quyền và báo chí gây cho người ta cảm giác đấy là 1 việc đương nhiên của PG.
Trong thời đại khủng hoàng niềm tin, có vẻ ĐCS muốn đồng nhất với những giá trị tôn giáo chăng, cụ thể ở đây là PG. Người ta xưng tụng Hương Vân Đầu Đà, Trúc Lâm Đầu Đà, Điều Ngự Giác Hoàng thành Phật Hoàng. Tôi không hiểu tường tận nghĩa Hán tự của từ này lắm nhưng điều đó cho thấy người ta vô tình hoặc cố ý muốn nhấn mạnh cái khía cạnh vua-phật phật-vua của ngài. Một đại lễ hoàng tráng kỷ niệm 700 năm ngày mất của "Phật Hoàng". Trăm người biết vạn người hay. Không biết liệu có bao nhiêu người muốn và có tìm hiểu về những ngày cuối đời của "Phật Hoàng" còn ghi lại rõ ràng trong chính sử cũng như phật sử? Đọc đối chiếu giữa những ghi chép trong "Đại Việt sử ký" và trong "Thánh đăng ngữ lục" (theo Trần Nhân Tông toàn tập-Lê Mạnh Thát) gợi ra nhiều điều thú vị đáng suy nghĩ.
Các nhà Phật học nhiệt tình thường rất ủng hộ những Thiền phả liên tục và lâu dài được ghi trong các tài liệu Phật sử. Ví dụ như hầu hết các vua và đại thần triều Lý đều nằm trong dòng truyền thừa "tâm truyền tâm" của các thiền phái bắt rễ đến tận Lục tổ Huệ Năng (coi như chưa kể 28 chư Tổ truyền đăng từ Bồ đề Đạt Ma). Căn cứ vào hành trạng của họ (vua quan triều Lý) còn ghi trong sử, lại đối chiếu với những gian nan sinh tử để giác ngộ còn ghi trong Thiền sử (Trung Hoa và Nhật Bản) tôi hoài nghi sâu sắc mức độ giác ngộ của những Thiền sư-hành chính này. Có thể đó là sự giảm nhẹ tiêu chuẩn giác ngộ trong thời Tượng pháp. Có thể là sự tô vẽ của những môn đồ nhiệt tâm cuồng tín đời sau. Có thể sự tỏ ngộ là phổ biến, nhưng giác ngộ sâu sắc để được đưa vào mạng mạch truyền đăng thì tôi hoài nghi những điều ghi chép đó.
Lẽ tự nhiên khi mới tìm hiểu về Trần Nhân Tông tôi cũng tiếp tục giữ sự hoài nghi như vậy về yếu tố chính trị-tôn giáo trong giới cầm quyền. Trong khi thực sự tôi lại rất tin tưởng vào những tri kiến của Trần Thái Tông còn ghi trong ngữ lục-vị vua khá thầm lặng khi so với Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông. Nhưng khi đọc về những ngày cuối đời của Trúc Lâm Đầu Đà được ghi trong sử và trong ngữ lục thì chính từ những độ vênh của 2 văn bản lại đem cho tôi thêm nhiều tin tưởng nhiệt tình. Bỏ qua những chi tiết tô vẽ trong Thánh đăng ngữ lục đượm màu huyền thoại hoá của đời sau thì ít nhất ta biết được mấy sự kiện này:
- Từ sau khi xuất gia, hành trạng của Thượng hoàng Trần Nhân Tông ngày càng ít can thiệp vào việc triều chính và chuyên chú trong hạnh đầu đà. Người ngày nay khi trèo lên sườn Tây của dãy Yên Tử (chính là khu vực mới phát lộ gần đây bên phía tỉnh Bắc Giang, cũng chính là cơ sở chính thời Trần của Trúc lâm phái) còn thấy cheo leo thế nào thì hẳn chúng ta thêm kính mộ việc Trúc Lâm Đầu Đà thực hiện thệ nguyện chỉ đi bộ, từ bỏ võng kiệu, ngựa xe.
- Hoạt động của Trúc Lâm thiền phái không hẳn được triều đình và giới trí thức Nho gia thông hiểu hoàn toàn cũng như ủng hộ sâu xa. Một mặt PG vẫn giữ ảnh hưởng lên đời sống quốc gia nhưng ở bình diện 1 thứ tôn giáo hình thức chứ không phải người người thâm chứng, nhà nhà giác ngộ như mô tả đời Lý. Một mặt trong thiền phái những mô tả còn lại cho thấy thực sự tồn tại 1 đời sống đào luyện tâm linh rất miên mật khắt khe theo đúng tông phong.
- Pháp Loa và các đệ tử thậm chí đã hoả thiêu vị Trúc Lâm Đầu Đà theo đúng các nghi thức PG trước khi thông báo về triều đình. Thật là 1 sự kiện kỳ lạ và khá tự tiện! Chính sử còn ghi lại sự giận dữ và nghi ngờ của triều đình trước hành vi của Pháp Loa và chỉ khi có 1 sự kiện có tính chất mầu nhiệm (thấy xá lợi trong áo hoàng tử Mạnh-Trần Minh Tông sau này) mới hoá giải được tình thế. Dù thế nào ta cũng ghi nhận 1 sự kiện là giới PG Trúc Lâm đã hành xử trên 1 thái độ rất xuất thế gian! Và cũng không khí của những sự kiện này cho thấy bắt đầu bàng bạc dấu hiệu suy tàn của thời "tâm truyền tâm" trong thiền phái.
Thời mạt pháp vạn sự đảo điên. Với cái nhìn của người học Phật, tôi thực sự nghĩ rằng nếu Đầu Đà có biết được, ngài cũng bó tay với sự màu mè vô lối của hậu thế. Heidegger đã từng nói đại ý "khi 1 tư tưởng bị ngộ nhận và mọi việc trở lên đảo điên thị phi thì duy nhất chỉ có thể sửa chữa chính bằng 1 lối tư tưởng chân chính và tận căn nguyên". Dầu sao đi nữa phải nhận rằng thời đại này là thời đại mà "tác giả đã chết!" đó sao?
Quay lại chuyện chính quyền và tôn giáo ở VN ngày nay, đừng nói tại sao Công giáo VN lại có phản ứng mặc cảm thiểu số với chính quyền. Gần đây những việc tưởng như đương nhiên này có phần bị lạm dụng. PG đang có vẻ muốn trở thành 1 thứ quốc giáo chăng. Nhẹ nhàng hơn thì người ta gọi là PG "mặt trận", sư "mặt trận". Trong cuốn "Nguồn gốc văn minh" của W.Durant, tác giả có nhận xét rằng một nền văn minh muốn ổn định và phát triển thì cần có tôn giáo, để người ta tin vào những điều cao siêu, huyền bí-để đạo đức được tuân thủ như là 1 nghĩa vụ chứ không phải là kết quả của toan tính. Nhìn lâu vào giữa 2 hàng chữ, khi mà tôn giáo đồng nhất với mê tín dân gian, khi mà cả xã hội phải đồng thanh học tập gương đạo đức của 1 cá nhân cụ thể thay vì những nguyên tắc công chính-thì phải chăng xã hội đó đã xuất hiện những chỉ dấu đáng lo ngại về sự khủng hoảng và suy tàn từ trong căn cốt?
.....
Bèn đứng lên nói:
- Đại tôn đức lừa người để làm gì?
Điều Ngự bèn thở dài. Vị tăng ngẫm nghĩ. Điều Ngự liền đánh. Vị tăng lại định đi ra hỏi. Điều Ngự liền hét. Vị tăng cũng hét.
Điều Ngự nói:
- Lão tăng bị ngươi hét một tiếng, thì hét hai tiếng rốt ráo thế nào? Nói mau, nói mau.
Tăng ngẫm nghĩ.
Điều Ngự lại hét một tiếng, nói:
- Con hồ tinh hoang kia vừa mới đến liến thoắng, nay ở chỗ nào rồi?
(trích Bài giảng tại chùa Sùng Nghiêm)
Thứ Ba, 20 tháng 1, 2009
Nỗi buồn quan họ
Trước đây, xứ Kinh Bắc đối với tôi là 1 nơi chốn mơ hồ trong dĩ vãng. Gần như là không có gì nổi bật lên khỏi nền cảm xúc miên man từ mấy câu thơ của Hoàng Cầm. Những câu thơ thật đẹp:
Ai về bên kia sông Đuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu...
Nhịp điệu lướt đi như cơn gió đồng buổi chiều mùa hè. Mênh mang dênh dang đi qua núi qua sông qua cánh đồng rặng tre. Chỉ cần như vậy thôi đã da diết một quê xứ. Ngay cả khi mãi sau này tôi mới đi thăm những địa danh dọc con sông Đuống nao nao kia.
Kinh Bắc. Ký ức về quan họ còn đọng lại vương vất trong miền lắng là những đoạn hồi tưởng của Hoàng Cầm về tuổi thơ, trò tam cúc, trải ổ rơm và lá diêu bông.
Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thơ đi tìm
Đồng chiều
Cuống rạ
Chị bảo
-Đứa nào tìm được lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng
Hai ngày sau Em tìm thấy lá
Chị chau mày
-Đâu phải lá Diêu Bông
Mùa đông sau Em tìm thấy lá
Chị lắc đầu
trông nắng vãn bên sông
Ngày cưới chị
Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim
Chị ba con Em tìm thấy lá
Xòe tay phủ mặt Chị không nhìn
Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu Bông hỡi!...
-ơi Diêu Bông!... (Lá Diêu Bông / thơ Hoàng Cầm, 1959)
Tôi không thuộc hết bài thơ này nhưng ký ức luôn lưu giữ những ấn tượng liên tưởng ám ảnh đến miên man với
Đồng chiều
Cuống rạ
và
Chị lắc đầu
trông nắng vãn bên sông
mà đã có lần vọng lại trong những câu thơ tôi
Nhìn cơn gió có còn thương mến cũ
Nắng ngang chiều
Trông nắng vãn bên sông
Kinh Bắc còn là 1 chút vấn vương tuổi mới lớn khi đọc "Vị đắng trên môi" từ xa xưa. Những tâm tình mới lớn của trai gái làng quan họ. Câu chuyện về xét loại giọng theo ngũ hành để phân hát cặp. Kết thúc là chia cách, không đến được với nhau...Những chuyện từ ngày đó chỉ còn lại vậy. Nhưng khi nhân công việc mà cần rà lại vốn liếng hiểu biết của mình về Kinh Bắc và quan họ thì tất cả lại dội về bâng khuâng.
Bây giờ nhìn lại mới thấy mới nghĩ nhiều điều. Quan họ vượt lên trên cái nền chung của dân ca Bắc Bộ với những điển hình, ước lệ và chân phương của chèo, tuồng, trống quân...bằng giai điệu mượt mà trong sáng trữ tình. Lời ca chau chuốt, tròn chĩnh, trong sáng. Tuy vẫn những hình ảnh quen thuộc chốn đồng quê nhưng đã được chưng cất thành chất men nồng nàn mà e ấp kín đáo. Thứ ngôn ngữ của 1 lớp người thuộc về 1 quê xứ có tích tụ văn hoá hàng "mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên". Những giai điệu như lướt đi hoà cùng nhịp điệu của vùng không gian giao thoa giữa trung du và đồng bằng châu thổ: lên đồi, xuống sông, ra đồng, vào làng, dưới tam quan, bên bờ tre cạnh bóng đa già...Nó cũng là tượng hình của đây đó, đó đây. Gần mà xa, xa mà gần.
Kinh Bắc có nhiều lễ hội, đình đám. Mảnh đất này danh nhân không nhiều bằng những huyền thoại, truyền thuyết. Phân tâm học nói rằng lễ hội là hình thức nghi thức hoá của vô thức tập thể, cũng là để giải phóng nó. Không gian văn hoá quan họ gắn liền với những lễ hội đình đám. Văn hoá hành vi của quan họ trở thành những nghi thức chặt chẽ tinh tế.
Quan họ xưa là 1 thú chơi-1 cuộc hát không có khán giả và không có nhạc đệm. Thuần tuý là một "hình thức diễn tấu bằng lời thật, không cộng minh, cộng hưởng nhưng vẫn rõ lời" (@HS di sản UNESCO). Một lối giao tiếp được nghi thức hoá, văn chương hoá đã biến những tương ngộ giữa đời thực thành 1 cõi chiêm bao. Những giai điệu khi kết thúc thường chuyển từ giọng thứ sang giọng trưởng và tản ra, lênh đênh mênh mang. Lời quan họ đẹp, ước lệ và trong sáng. Chuyên tả cái tình tương tri tương ngộ mà không bao giờ vượt quá nghi lễ, quá lời nguyền "quan họ không lấy nhau".
Nhưng tôi cũng không tin rằng người quan họ sẽ nói "xin hẹn nhau kiếp sau" như trong lời 1 "bài hát Việt". Bởi vì sao? Lòng người có những chỗ mơ hồ vi tế đầy đa đoan. Đây đó đó đây. "Yêu nhau không đến được với nhau" là 1 nỗi niềm nhưng cũng là 1 bí mật phơi mở của cuộc sống. Quê xứ con người cũng là đất trích chiêm bao.
Thưa rằng: Ly biệt mai sau
Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân
Trong những vùng đồi núi phía sâu sau những làng mạc đồng bằng, trong những cuộc khảo sát điền dã, người ta còn thấy nhiều dấu vết của người Chàm ở vùng đất này, trong từng gia đình. Tôi thích tin vào giả thuyết có phần phóng túng rằng "quan họ là người Chăm hát chèo". Những người Chăm bị di dân bắt buộc, bị đồng hoá sau những cuộc xâm lấn Nam tiến của người Việt. Nó đưa ra giải thích thơ mộng cho những giai điệu, lời ca buồn, cho cái tình "quan họ không lấy nhau".
Cũng chỉ là chuyện vãn vậy thôi khi mà ký ức xa xưa nhất về quan họ cũng chỉ còn từ đời Lê-Trịnh trong những cầu chuyện kể của gia tộc. Và cái tên chỉ là 1 manh mối nhỏ bé trong câu chuyện dài. Quan họ bây giờ là 1 thứ văn hoá trình diễn: sang thì ở trên sân khấu, truyền hình, hay lễ hội; bình dân thì hát đám, hát mừng. Bất kể cái hình ảnh liền anh liền chị mớ ba mớ bảy chệnh choạng trên những chiếc thuyền vẽ rồng vừa hát vừa đỡ cái khay đựng tiền lẻ của khách xem làm ta áy náy thì điều đó dẫu sao chăng nữa chỉ là bình thường trong thời đại của những giá trị chắp vá này.
Nhưng vang bóng của quan họ xưa đâu rồi? Không ai tắm 2 lần trên một dòng sông. Tôi không có ý hoài cổ thuần lý. Câu hỏi mà tôi vẫn đang tìm kiếm lời giải đáp là: Từ đâu mà con người cũng thịt da tình tự như chúng ta lại chưng cất lên được 1 lối sống, 1 giai điệu để đất trích 1 lần nữa trở thành cõi chiêm bao?
Xin chào nhau giữa làn môi
Có hồng tàn lệ khóc đời chửa cam
Thưa rằng bạc mệnh xin kham
Giờ vui bất tuyệt xin làm cỏ cây
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)