Thứ Bảy, 3 tháng 3, 2007

Dada

Viết theo phong cách "hậu hiện đại" tý cho nó hợp với hiện tình. Coi như cũng là điểm sách.

Lúc trưa xem một bộ phim trên HBO. Phim trung bình nhưng kịch bản có một ý tưởng hay: Một nhà báo trẻ, tài năng sau khi chụp được một tấm hình bằng chứng phạm tội nhận hối lộ của một thẩm phán; khi băng sang đường để gặp vợ trong ngày kỷ niệm hôn lễ (với một đứa con sắp chào đời) thì gặp tai nạn giao thông-"trên gọi đi"! Lên thiên đường do vài nhầm lẫn của các thiên thần nên đã quay xuống đầu thai mà chưa được xoá trí nhớ. Nghĩa là một lúc nào đó trong kiếp sau anh ta sẽ có thể nhớ ra kiếp trước của mình. Câu chuyện xoay quanh việc chàng trai gặp lại vợ và con gái của mình (ở kiếp trước) và bỗng nhiên anh ta nhớ lại mọi chuyện cũng như sự hiện diện của người bạn thân trước kia trong gia đình cũ của mình như một người bạn lớn thân thiết (với tình yêu thầm kín trước sự chung tình của người vợ bạn). Thắt nút của câu chuyện là khi người vợ vô cùng khó xử trước tình cảm của 2 người đàn ông cũng như sự lạc lõng của người tái sinh trong tình thế của 26 năm đã trôi qua với thân phận mới trẻ trung cũng như sự lúng túng với tình cảm của cô gái trẻ (con gái) với mình!!! Mở nút-không, cắt nút theo một phong cách có hơi hướng Hàn Quốc: người vợ nhận ra tình yêu hiện tại của mình dành cho người bạn lâu năm kia còn anh thanh niên sau một cú ngã và liều thuốc sửa sai của thiên thần đã quên hết mọi việc. Formated. Hai đôi đâu vào đấy!!!

Ngày trước khi đi làm việc ở Nga Sơn, Thanh Hóa đến khu động Từ Thức, được người dân chỉ cho bia đá trên sông Thần Phù, xem ngọn núi có hình ông già gần đó ngồi nhìn ra biển có con vượn già ở bên cạnh...Mình bất chợt nhận ra nỗi buồn của sự bất tử. Một tình huống không khác mấy với bộ phim trên.

Sổ tay: "Khổ ải của người bất tử: Tôi phải sống-sống mãi để nhìn những người yêu quý thân thiết tuần tự trôi băng ngang qua cuộc đời vô tận. Ký ức cũng vô tận - nó là nỗi kinh hoàng khổng lồ với tôi. Tuyệt vô hy vọng. Không có gì để lại hay sinh sôi cả từ bản thân này ngoại trừ sự trơ tráo của nó! Không còn sự háo hức của tuổi trẻ. Không còn sự tự tin của trung niên. Xa lạ với sự bình thản cam phận của tuổi già. Không có tuổi. Không gì cả. Quá mệt mỏi để sống và nhìn. Hoá đá cũng không được-tri giác cũng bất tử như số phận của tôi. Phải chăng sự xác quyết này mới chính thực là cái chết vĩ đại? Đây mới là bộ mặt khủng khiếp của tử thần?

Không thể dửng dưng như cây cỏ. Quá xa lạ với con người. Nguội lạnh còn có ấm nóng làm điểm tựa. Tôi tựa vào đâu? Vực sâu núi thẳm. Bể xanh nương dâu. Đại dương băng giá vạn năm... Chẳng gặp lại người xưa làm gì. Vô nghĩa đến bẽ bàng.

Trần gian này, trái đất này tôi đã đi đến tận cùng. Khủng khiếp! Khủng khiếp thay khi chỉ còn một thứ duy nhất phải vượt qua: sự tồn tại của chính mình.
(Phác hoạ về câu chuyện người không thể chết - hay cái chết tuyệt đối).





Hôm đó đứng trên đỉnh núi đá của động Từ Thức, nhìn ngọn núi ông già và con vượn quay lưng lại nhân gian ngó đăm đăm ra biển; tôi bất chợt liên tưởng câu chuyện của Từ Thức khi đã thành bất tử. Và nghĩ rằng không xa lắm ngoài biển khơi Giáng Hương cũng còn đó. Nhưng họ không có gì để gặp nhau. Không ai tìm ai. Câu hỏi dai dẳng của vượn trắng về chuyện làm người. Một nghìn năm. Trong lòng hai khối núi kia là hai sự đau đáu: về làm người và thôi làm người.

Nghìn năm trước dòng sông Hoạch đổ ra biển ở cửa Thần Phù bây giờ nằm giữa huyện Nga Sơn-cách biển mấy chục km. Cửa Thần Phù nổi tiếng hiểm trở. Hai bên là vách đá dựng đứng hút gió, sóng rất lớn. Đây là điểm trung chuyển cho các chuyến hành quân chinh phạt về Nam bằng đường thuỷ. Vua Lý phạt Chiêm, vua Trần lánh Mông Nguyên...đều phải qua đây. Nhiều câu chuyện về các cung phi được đem hiến tế cho thuỷ thần đã xảy ra tại đây.

"Lênh đênh qua cửa Thần Phù

Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm"




Hôm đó trên thuyền theo thuyết minh của ông giáo trường huyện mê mải với những huyền thoại, mọi người đều chờ đợi được qua cửa Thần Phù. Thuyền đi ngang những đồng lúa và làng mạc. Bất chợt sốt ruột hỏi "đã đến Thần Phù chưa?" "Đã qua rồi!"

Núi đá ở Nga Sơn là núi đá tai mèo sắc nhọn lởm chởm, ít cây xanh. Chỉ hợp với dê núi. Rượu nếp Nga Sơn cũng ngon như rượu vùng Kim Sơn, Nghĩa Hưng, Hải Hậu...những xứ lấn biển. Đậm, sắc và ấm.

Theo Thần Tiên truyện, vào đời Đông Hán, tiên nhân Vương Phương Bình giáng cho mời tiên nữ Ma-cô đến. Ma-cô bảo Vương Phương Bình rằng: tiếp thị dĩ lai, dĩ kiến Đông-hải tam vi tang điền: từ khi được tiếp hầu ông đến nay tôi thấy bể Đông đã ba lần biến làm ruộng dâu.

----------


Chiều rằm Nguyên-Tiêu đi vãn cảnh chùa Láng. Cũng một nghìn năm rồi đấy. Lúc nào đến trước Phật điện tôi cũng thấy bối rối. Tôi muốn đến đấy, nhưng chẳng muốn xin gì cả. Bối rối đên tội nghiệp của kẻ chưa dám nhìn trực diện vào bản tâm. Ngồi bên thềm nhà giải vũ trong gió đông đang bốc xoáy tàn hương vàng mã cùng lá bụi nhìn lơ đãng những người đang khấn vái ngoài kia. Vẻ mặt trầm trọng như vào cửa công, hơi có vẻ bon chen, chỗ mô cũng vái vái, mắt lơ láo...Tâm con người lăng xăng thật. Tiếng mõ cũng gằn gằn gấp gáp. Cũng một nghìn năm rồi đấy.

---------





Sổ tay: Cách đọc sử ký và địa chí
: Đọc lịch sử mà không suy xét thì vô ích; không tưởng tượng thì suy xét nông cạn; không trải nghiệm thì tưởng tượng viển vông. Được như vậy mới coi là có cái học thức căn bản để bản thân tinh tiến; bản thân có thành tựu thì cũng giúp cho mọi người được ảnh hưởng mà tinh tiến lên. Vì vậy, phải có các bản đồ địa hình và địa dư để hiểu sự phân bố trong không gian, sự chuyển biến do thời gian và địa khí hậu tác động. Để cuối cùng xét xem nhân sự thành ra chiếm bao phần trong lịch sử.

Đọc một cố sự thì nên có thêm bản đồ ngày nay, ngày xưa; có địa lý, thuỷ văn, khí hậu; có trang phục ngôn ngữ, tập tục, luân lý, pháp luật, tôn giáo-vừa bằng tóm tắt, vừa bằng hình ảnh để liên tưởng cho tốt. Lại cần hiểu những con người thực cho cận nhân tình.

Cuối cùng, các nhân vật lịch sử cần phải có cá tính riêng, chiều kích riêng của họ mà xem xét. Lịch sử là lịch sử của tương quan chiều kích cá nhân và toàn thể. Không có khái niệm lịch sử đơn thuần nằm ngoài con người - Không thuộc về ai thì không là gì cả!

Sổ tay: Thác đao là mượn chuyện ông Lê Phụng Hiểu. Lúc vua Lý Thái Tổ mới mất, thái tử Phật Mã kế vị, 3 em làm phản dàn quân tranh ngôi. Vua mới bối rối, không nỡ để mất tình thân. Cùng các vị cận thần khác, LPH là người hiểu được lẽ cương thường, biến thông, thuyết vua việc nên việc không.

(Xét: một ông vua nếu hiểu được cái lẽ đất nước nên có ngôi vua thì nước ấy cường thịnh, văn minh. Khi ông vua hiểu lẽ đất nước phải có ngôi vua thì đã có sự chuyên chế. Còn nói gì đến khi vưa coi nước là của riêng - tất nhiên phải mất!).


Ông lại uy dũng, một đao triệt loạn-công ông vào bậc nhất. Vậy mà khi vua ban thưởng lúc trí sỹ về quê, ông chỉ xin nhận ruộng ấp bằng tầm ném đao. (Xét: truyện dân gian nói hàng nghìn mẫu ruộng hẳn là sự khuếch trương lân toả phụ theo đức của ông thôi).

Ý tứ thật ý vị, sâu xa! Võ quan về làng thì ném đao xuống đất mà làm dân cày ruộng. Công do sức ấy nên xin quả ấy. Bảo sao dân quanh vùng đều quy về nhận là ruộng thác đao.

Chuyện ấy đã từng xảy ra ở nước này. Nhưng thời ấy địa thế khác giờ; đất Bắc Bộ còn lũng trũng những gò nổi. Phong tục cũng khác. Ăn mặc khác. Giọng nói khác. Tầm vóc hình dáng con người cũng khác. Nhìn như vậy thấy lịch sử thật sống động.

Nhân chuyện này để nói rằng: việc giáo dục có khi hiểu là nên, có khi hiểu là phải. Bể xanh có thể thành nương dâu. Viêc học cốt ở chỗ tìm sâu vào lẽ nên/không ấy. Lại cho là người có chí hướng cao tuyệt thì hẳn đặt vào sự thông hiểu trời người. Như ông Lê Phụng Hiểu tuỳ vào đao mà dựng nghiệp. Biết vua nên làm vua. Tôi nên làm tôi. Việc cần đánh nên đánh. Việc cần tha nên tha. Biết công do nghiệp, chỉ nương vào giá trị của chính mình. Đấy là ý của thác đao trong câu chuyện này!


Lại tự hỏi: nếu là ông LPH thì ông có suy nghĩ gì? Sao lại phải và có nên ném hết sức mình ko?

Làm người ở đời phải có một lần chung cuộc ném cho hết tầm đao vậy.







Sau này xét lại mô tuýp chuyện này giống hệt chuyện Lý Thế Dân đời Đường. Sử viết hồi nhà Trần mới lập nhưng cũng đã cách hai trăm năm rôi. Có thể tin Lê Văn Hưu nhưng sao tin được sử liệu của ông dùng nhất là với triều đại gốc Mân ấy nhỉ? Kệ. Vấn đề là để ngỏ cho nhiều lối nghĩ. Hãy nghĩ tốt và biết phân biệt. Mình ghét cha TĐCT thích nói ngược vào chỗ đen tối của lòng người (người nào vậy cà?). Không chịu nhận rằng người là hỗn độn phân tranh. Và cốt là ở chỗ đọc lại bản thân.
---------------------


Quay lại với bộ phim. Chính ra đây rất gần với điều Phật giáo muốn điểm hoá. Sống là sống-với và cũng biết rằng vạn sự vô thường, vạn pháp vô ngã. Không chối bỏ cũng không luyến tiếc. Biết vô minh. Biết từ bi. Biết hỷ xả. Thấy như vậy. Biết như vậy.








Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2007

Quá vãng. Nốt.




Vỗ tay reo
Tiếng vang vang..

Hò lơ

Gọi

khoang thuyền ngày xưa

Bàn chân trần lấm cát

Dẫm ván sàn

chênh chao..

Hò lơ

Rắc nắng, rây vàng

Loang xanh

Thả gió

Cho

ngày bình yên..


Vỗ tay reo
Tiếng vang vang..

---


...Mình ưa những gì hàm chứa dấu ấn thời gian; những gì có thể kể cho mình nghe một câu chuyện thì thầm quá vãng…Hóa ra vì vậy mình không thích nghi lâu được những cái gì quá sạch sẽ, quá mới, quá ngăn nắp, chỉn chu.

…Mỗi người là một thế giới riêng hao mòn. Thời gian chệnh choạng. Sự kiện vụt lướt qua. Kể lại chả ích gì cả. Cái đã xảy ra với anh sẽ không bao giờ giống cái sẽ kể - sẽ xảy ra với em. Trách chi cuộc sống ngày càng vụn ra, rời rã.

…Ngày xưa mây trắng bay phiêu dật chân trời. Buổi chiều mùa hè. Nắng đầy chiều. Lũ trẻ đu mình trên cây xoan bên bờ mương, dõi nhìn phía bầu trời trên cánh đồng. Mây trắng hình gì ấy nhỉ? Thi xem ai tìm được nhiều hình nhé! Dịu nhẹ. Ký ức ấy rất nhẹ nhõm trong cõi lòng tôi vụn vặt.

…Ngày xưa, bờ sông là một thế giới lạ lẫm, nhiều hứa hẹn. Dòng sông là dấu vết của một nơi nào xa vắng. Dòng sông lớn hơn bây giờ nhiều. Nước sông đục ngầu màu nâu của bùn đất phù sa. Mặt sông cuộn lên những thớ nước như cơ bắp người khỏe mạnh vậy. Con đường gập ghềnh là con đường to nhất tôi biết. Rất có thể tìm được những viên đá xanh to, có vân để mài bi. Mặt đường hứa hẹn thật nhiều…

…Một buổi chiều mưa gió mùa đông. Lũ trẻ 5, 6 tuổi là tôi lang thang chơi ven đường. Đầu ngõ vào khu tập thể có cây bàng đã cỗi. Gốc bàng đỏ, đầy những cục u nổi lên. Rễ bàng xiên cả ra ngoài đất. Nhặt mấy cái rễ còn tươi mùi hăng hắc, nồng nồng, cảm giác như mình đang nắm giữ những bí mật về một vị thuôc lâu đời. Cái hàng hiên nhìn ra đường cái mà luôn luôn đóng kín cửa ấy là một nơi kín gió và ít mưa hắt vì nó có hai đầu hồi bị bịt kín bởi hai căn buồng. Mặt hiên lát gạch mộc. Thứ gạch đã cũ mèm. Mủn ra và bẩn thỉu. Hình như có một trò chơi dang dở về cô dâu chú rể. Cũng chẳng còn nhớ nữa có phải chú rể là mình không… Không phải là một ký ức tươi tắn rộn ràng của trẻ thơ mà là một ký ức mơ màng, ám ảnh da diết . Nó làm thu lòng lại.

…Ông chủ quán gầy gò mắt trố hay ngồi thu lu, co cả hai chân lên ghế bên chén rượu, trong cái quán nước bên sông. Cười mãi điệu cười lành lành, tinh quái. Có những con thuyền thường cập bờ bên kia. Chở cát và những thứ tương tự. Ước ao của tuổi thơ tôi. Một nỗi ước ao thật riêng tư và thầm kín – được lên những con thuyền ấy mà xuôi ngược theo dòng sông. Biển cũng lạ lùng như đầm lầy trong rừng sâu vậy. Những buổi chiều mùa thu mù sương, khói đồng vảng vất. Con thuyền là nỗi nhớ nhung khôn nguôi. Ước mơ một lần nằm duỗi mình trên sàn thuyền, nhìn qua khe mà ngó những bàn chân trần dẫm dẫm dọc mạn thuyền.

…Một lần thức giấc trong đêm mà nghe tiếng mưa rơi. Qua song cửa tiếng mưa lộp độp, màu mưa bàng bạc. Vườn điền thanh xa xa cũng bỗng thành một xứ sở. Bây giờ thì nước ngập sâm sấp. Ở đấy như một đầm lầy, có ếch, có cả rắn nước nữa. Một xứ lạ trong khoảnh không gian tuổi thơ tôi.









Mọi cái đều đẹp, đều đáng mến, nhưng tại sao lại cứ phải chờ cho đến lúc đã qua đi? Cứ nhìn lại mãi thế này à? Ngay cả giờ đây, chẳng phải là đang ở trong một không gian thật tuyệt sao? Mỗi thứ xung quanh đều kể một câu chuyện trìu mến. Dàn hòa với cuộc sống của mình là một điều thật khó khăn.

Điểm sách.

Mỗi ngày một chút. Bắt đầu bằng thứ dễ nhất: mấy dòng về sách văn học ngày trước.
-------------

Ngày trước có cái hay là chẳng có TV đài đóm gì cả, tôi lại ở tập thể nên hay đọc ké được các sách của người lớn. Những cuốn mọi người kể ngày trước hầu như tôi cũng đã đọc cả. Giờ thử tuỳ tiện điểm lại xem mình còn lại cái gì.

Không còn một ấn tượng nào nhưng nghe kể lại thấy hay hay nên nhắc đến đầu tiên là hồi mới 2-3 tuổi, nhà mua cho một đống chuyện tranh để dỗ. Thế mà thằng bé cứ thuộc làu làu, ai đến nhà cũng đem ra khoe, đọc theo tranh mà không sai chữ nào mới oách chứ. Có chuyện ông Lê Lợi trả kiếm cho rùa thần. Bây giờ chỉ nhớ hình như có câu "ông bèn rút gươm ra..". Rồi bộ Bác sỹ Ai-bô-lít của nhà xuất bản Cầu Vồng nữa...

Hết kỳ 1 năm lớp 1 thì tôi tập đọc bằng bộ "Viên đạn ngược chiều" 4 tập. Bây giờ vẫn còn nhớ có đoạn có chiếc nhẫn gài kim độc...Rồi cứ như vậy, chẳng theo thứ tự gì cả bạ đâu đọc đấy. Hồi đầu còn bé đâu có dễ mà mượn được sách của người lớn. Toàn đứng sau vai đọc ké. Nên bây giờ tự nhiên luyện được phép đọc chụp ảnh, không theo dòng theo từ. Thường mình đọc nhanh gấp đôi họ nên cứ xong lại lảng ra cho họ đỡ khó chịu, chỉ rình họ ăn cơm hay có việc gì bỏ sách xuống là lân la cầm lên xem ké. Sao hồi ấy cũng mê sách lạ, bao nhiêu lần bị đuổi mà vẫn dày mặt ra mặc kệ. Sau có vài người quý mới cho mượn thường xuyên. Thế là thành tính luôn giữ gìn sách thật cẩn thận để không ai phiền lòng, không thì có mà cúp điện luôn. Quãng lớp 2-4 được người nhà mua dần cho bộ Tây Du Ký 10 tập đọc mê mải. Những ngôn từ và điển cố Trung Quốc cũng từ đấy thành quen thuộc. Tam quốc diễn nghĩa thì chỉ có nghe đài, mà cũng đi nghe đài nhờ thôi...Lớp 5 đã đọc ké bộ Tình sử Angiêlíc (hì) rồi Thanh cung 13 triều, Tiếng chim hót trong bụi mận gai...thế là khôn sớm nên 101 chuyện bạn không dám hỏi cũng đọc tuốt...

Thực sự có những cuốn bây giờ kể ra thì khó nhưng chỉ biết nó đã làm trí tưởng tượng và tình cảm phong phú rất nhiều. Thậm chí sau này mỗi khi xem một bộ phim hay đọc gì đó về các nước như Pháp, Anh hay Nga luôn luôn cảm thấy như rất thân thuộc như mình đã từng lớn lên ở những nơi ấy.

Truyện thiếu nhi thì có Quê nội làm mê mải một thời những con sông, chuyến đò. Mấy đội du kích... cũng ám ảnh những trưa hè. Có truyện gì về mấy thiếu nhi ở Huế có nhân vật Dũng bị bắt rồi dìm chết dưới sông..bần thần cả người. Tuổi thơ dữ dội mãi sau này lên cấp 3 mới đọc nhưng cứ mỗi trưa hè vang vang nắng là lại liên tưởng đến. Không gia đình, Olivertuýt,..làm cả tuổi thơ luôn hướng về những chân trời xa xăm...Rồi những Đảo giấu vàng, quán rượu Buốc bin, Cuộc đời chìm nổi...nhiều lắm.

Nhưng thường nhớ đến mỗi khi thoảng qua là cái màu bìa và giấy đen đen của những cuốn sách ngày xưa. Bây giờ sách giấy trắng cũng không thích bằng. Thành luôn thói quen ưa thích những gì cũ kỹ, biết kể những câu chuyện xa xôi quá vãng...Tự nhiên nhớ đến Mùa hoa dẻ bên sông, Mũi tên đen, Aivanhô, Con culi của tôi, và nhất là Vị đắng trên môi..chuyện về làng quan họ, chẳng có gì mà cứ nhớ đến những trưa đầy nắng, những câu chuyện miên man...Tý quên, phải kể chuyện Thầy Lang nữa. Đọc khoảng năm lớp 5,6..cả xem phim đều rất xúc động. Sau này có lần đi thi văn được giải vì bê nguyên cảm xúc của quãng đường lang thang không có nơi để về vào...Trên sa mạc và trong rừng thẳm thì mãi sau mới đọc.

Còn có ảnh hưởng nhiều thì còn phải kể tập thơ Nguyễn Bính cậu bạn cho mượn hồi hè năm lớp 6. Thành một phần tính cách luôn từ những bài thơ giang hồ ấy. Mãi sau này vẫn thích đọc những Lỡ bước sang ngang, Hoa với rượu, Những chuyến tàu trên sân ga, Hành phương Nam...Năm lớp 7 đọc Đồi gió hú để lại ấn tượng kỳ lạ. Chưa bao giờ lại có chuyện tôi đọc một nửa truyện mà vẫn chưa có ấn tượng gì nhưng sau đó đọc rất chậm xuống còn một ngày 1-2 trang vì dư vị của sách quá nồng. Mỗi ngày chỉ đọc như thế để không bỏ lỡ mất cảm giác mê man của một thế giới riêng biệt.

Những người khốn khổ là một truyện nổi tiếng vì vậy hồi đầu tôi tìm đọc được là năm lớp 9. Lần thứ nhất chỉ cốt biết cốt truyện và ấn tượng với tầm vóc tác phẩm thôi. 6 tháng sau đọc lại thì lại chú ý đến những tổng luận triết lý. 1 năm sau nữa đọc lại thì thấm thía với những mẩu đời nho nhỏ...


Thứ Năm, 1 tháng 3, 2007

Entry for March 02, 2007

http://blog.360.yahoo.com/blog-Vu7viS0laaeZd4RQ7woX3YU-?cq=1&p=4203

Đi chơi đi!!!




Đang định thứ 7 này đi đâu đó quanh quanh Hà Nội. Tại gió với nắng mùa xuân lúc chiều. Trước Tết: "Ra giêng mình đi chơi nhé?"-"Ừ, nhưng mà đi đâu?"-"Anh đúng là già rồi!"...

Ừ, nhưng mà đi đâu nhỉ? Đang định hoặc là chùa Tây Phương-hơi xa, đi 2 người hơi xa. Hay Trăm Gian? Lại chưa biết đường. Hay lại sang Bắc Ninh? Hay đi Đường Lâm? Mình dạo này rã rời quá thể..

Có ai du xuân không nhỉ?

Thứ Ba, 27 tháng 2, 2007

Hội làng mở giữa mùa xuân




"Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay"-Hôm nay thì cứ gọi là...


----------------------------------



...Nói chuyện Bắc Ninh, nhớ có lần tôi cùng với cậu bạn rủ nhau phóng xe sang đấy chơi lang thang, cũng lâu rồi và không nhân dịp gì cả. Lúc đầu lang thang sang làng Lim rồi tạt ngang tạt ngửa, không còn nhớ đoạn nào. Tự nhiên có một quãng đường đồng rồi có hai lối rẽ: một đàng sang chùa, một đàng sang đền. Ngẫu nhiên hôm ấy bên chùa đang có lễ rước tượng Phật do cúng tiến vào chùa, bên đền có lễ tế gì đấy. Chúng tôi chọn rẽ sang đền. Ở đấy chủ yếu là các bà già và trẻ con. Thấy mình có bảng vẽ, bọn trẻ lân la lại nói chuyện...Có đứa hỏi "Chú là sinh viên à? Chú có biết thằng Bình không?" Ngớ người. "Biết, biết chứ. Nó học với chú đấy..." (Bịa). "Bình râu chứ gì?" (lớp có thằng Bình râu thật). "Vầng. Nó là cháu cháu đấy!" Choáng. Thằng cu khoảng 5-6 tuổi. Đến phần chia lộc, chúng tôi cũng được mấy miếng bánh đúc, mấy quả roi..Hôm ấy trời khô ráo, hình như cũng đợt cuối xuân đầu hạ, một ngày bình thường, một cơn hứng chí...Ngẫu nhiên và nhẹ nhàng như vậy..hay nhỉ?

Erich Fromm, Phân tâm học và tình yêu.5

5. Yêu Chúa.

- ...nền tảng cho nhu cầu yêu thương của chúng ta là ở cảm nghiệm ly cách và nhu cầu chung cục là vượt qua ưu tư về ly cách bằng cảm nghiệm hợp nhất. (Một khi chúng ta thấy rất khó khăn và mơ hồ để mô tả hạnh phúc với ta là gì thì có vẻ ta khá dễ dãi trong quyết định hạnh phúc là gì cho kẻ khác (thậm chí là đi đấu tranh điên cuồng cho những giá trị ấy/ Mặc dầu vẫn biết rằng nhận thức có được từ những tương tác chứ không phải là từ những tư biện). Phải chăng thái độ khiêm tốn và có ích một cách đúng đắn là nên bắt đầu bằng cách nhìn thật rõ vấn đề nhân sinh của ta từ nhiều góc độ khác nhau; để có thể lý giải được tính đồng quy nhi thù đồ của nó: Khổ Đế, cảm nghiệm ly cách, sự thúc bách tức thì và vô ngã của đạo đức trên sự chông chênh từ nền tảng của nó...Và sự thực là nếu ta nhận rõ vấn đề của ta thì ta có thể kiểm nghiệm được giá trị của hiểu biết mà tang đang nắm giữ thay vì lạc lối trong những tu từ của ngôn ngữ) [Nhu cầu vượt qua ưu tư về ly cách bằng cảm nghiệm hợp nhất là mục đích rốt ráo của đời sống con người. Nó là động lực thúc đẩy mọi cơ chế tinh thần của con người? Hay nói một cách tương đương – ưu tư về ly cách là Khổ trong Khổ Đế của Đức Phật].

- Tình yêu Chúa cũng không khác (theo phương diện tâm lý).

+ Nó cũng khởi lên từ nhu cầu vượt qua ly cách và hoàn thành sự hợp nhất.

+ Sự thực, tình yêu Chúa cũng có những phẩm tính và sắc thái sai biệt như tình yêu người.

- Thượng Đế đại diện cho giá trị tối cao, cho lẽ Thiện đáng hâm mộ nhất.

> Bởi vậy, ý nghĩa đặc biệt về Thượng Đế tuỳ thuộc cái gì là hâm mộ nhất đối với một người. (Thượng Đế là sự phóng chiếu bản ngã con người?). (Như vậy là đang đi ngược trong khi đáng ra là phải bắt đầu từ chỗ do đâu khởi lên ý niệm về Thượng Đế).

> Do đó, sự hiểu biết về khái niệm Thượng Đế phải mở đầu với một phân tích về cơ cấu đặc trưng của kẻ phụng thờ Thượng Đế. (Thượng Đế - khái niệm về Ngài chỉ có ý nghĩa trong những tương quan với con người).

- Sự phát triển của chủng loại người,...có thể được biểu trưng như là sự vươn lên của con người ra khỏi nhiên giới; khỏi mẹ, khỏi những ràng buộc của máu và đất. (Sự phát triển theo ý nghĩa tiến bộ hay là một sự kiện lịch sử? Người ta vươn lên khỏi nhiên giới để rồi thấy rằng mục đích rốt ráo là cảm nghiệm hợp nhất!) (Tha hoá là tất yếu – Marx).

- Khởi thuỷ, con người vẫn còn bám vào ràng buộc nguyên sơ, vẫn cảm thấy đồng nhất với thế giới động vật - một con vật biến thành vật tổ.

- Vào giai đoạn sau, khi kỹ xảo con người đã phát triển đến điểm kỹ xảo của một người thợ hay một nhà mỹ thuật – con người biến đổi sản phẩm do chính tay mình thành một thần linh. (Luận điểm duy vật lịch sử của Marx?).

> Thờ ngẫu tượng làm bằng đất, vàng hay bạc.

- Con người rọi phóng những năng lực hay kỹ xảo của chính mình vào những sự vật mình làm ra – và như thế, nó thờ phụng năng lực và sở hữu của mình trong cách thế vong thân. (Đáng chú ý là: kỹ xảo của người thợ hay nhà mỹ thuật hàm ý gì? Phải chăng là đánh dấu mốc: khi con người bắt đầu làm việc ngoài ý nghĩa lợi ích thông thường, ngoài bản năng sinh tồn tối thiểu - tức là bắt đầu tách rời/bắt đầu tự ý thức - cảm nghiệm ly cách, tìm giải pháp – khi nhu cầu con người đã hình tượng hoá và trừu tượng hơn?) [Đánh dấu mốc lịch sử tôn giáo (phân chia) như vậy liệu có khách quan không, có chứng cớ phân tâm không?].

- Vào giai đoạn sau nữa, con người mang cho các thần linh của mình hình thức loài người.

+ Hình như điều này chỉ xảy ra khi con người đã trở nên ý thức hơn về chính mình, và khi nó khám phá ra con người là “sự vật” cao quý nhất trong thế giới. (Có thực con người là sự vật cao quý nhất một cách hiển nhiên – hay đây là phát biểu của chiều hướng tự tôn của loài người - một giai đoạn ấu thời trong sự hình thành tư tưởng của con người).

- Trong giai đoạn thờ phụng thần linh có tính cách nhân hình này, chúng ta thấy có một phát triển trong hai chiều:

(+) Một chiều hướng liên quan đến bản chất nam/nữ tính của thần.

(+) Chiều khác quan hệ đến trình độ trưởng thành mà con người đã hoàn toàn/và xác định bản chất các thần linh của mình và tình yêu của mình đối với chúng.

- ... đã có một gia đoạn mẫu hệ của tôn giáo đi trước giai đoạn phụ hệ, ít ra là trong nhiều nền văn hoá.

- Trong giai đoạn mẫu hệ, thể tính cao nhất là mẹ.

- Yếu tính tôn giáo mẫu hệ giống yếu tính của tình mẹ.

+ Tình mẹ thì vô điều kiện...nên người ta cũng không thể kiểm soát và thâu đoạt nó.

+ Sự hiện diện của nó mang lại cho kẻ được yêu một ý vị phúc lạc; sự vắng mặt tạo ra ý vị mất mát và hoàn toàn tuyệt vọng.

> Bởi vì bà mẹ yêu con cái của mình ở chỗ chúng là con cái của bà chứ không phải vì chúng “tốt”, ngoan ngoãn hay đã thoả mãn những ước vọng và những chỉ dạy của bà – cho nên tình yêu của mẹ đặt trên lề bình đẳng - mọi người đều bình đẳng và tất cả đều là con cái của một bà mẹ, bà mẹ Trái Đất.

- Giai đoạn kế tiếp của tiến hoá nhân loại: giai đoạn phụ hệ (giai đoạn chúng ta biết đầy đủ nhất).

+ Người cha trở thành thể tính tối thượng, trong tôn giáo cũng như trong xã hội.

+ Bản chất của tình cha là ông tạo ra những đòi hỏi thiết lập những nguyên tắc và luật lệ và tình yêu của ông đối với con trai của ông dựa trên sự phục tùng của nó đối với những đòi hỏi này. (Dĩ nhiên, E.F đang mặc nhận tôn giáo như là sự phóng chiếu đời sống con người. Tuy nhiên phân tích yếu tính tình cha vẫn còn sơ sài: từ đâu có những đòi hỏi ấy? Vì ông ta không chắc chắn, lo sợ cạnh tranh – nên ông ta đòi hỏi sự thử thách và phục tùng?).

(+) Kẻ xứng đáng nhất (trong các con) sẽ là truyền nhân của ông với tư cách là một kẻ kế thừa những sở hữu của ông. (Sự phát triển của xã hội phụ hệ song song với sự phát triển về tư hữu) (Tình mẹ có cơ sở tuyệt đối của sự sở hữu, tình cha thì không - sự sở hữu của ông phải dựa vào những dấu hiệu khác. Chúng vẫn có một điểm chung: ý thức về tư hữu. Đối chiếu với tục truyền cho con trưởng thì sao? Phải chăng là liên quan đến ý thức trọng tôn ti trật tự tuổi tác của xã hội nông nghiệp (hay nhu cầu duy trì trật tự). Trong lịch sử phương Tây thì sao?)

+ Hậu quả của yếu tính phụ hệ là xã hội phụ hệ có một tính cách đẳng cấp

- Tính cách bình đẳng nhường bước cho cạnh tranh và hỗ tương xung đột.

+ Các nền tôn giáo: Do Thái, Cơ Đốc, hay Hồi Hồi, nền văn hoá Ấn Độ hay Hy Lạp đều có tính phụ hệ với những thần linh nam tính của nó – trên hết có một thần linh chủ tể/hay mọi thần linh đều bị loại bỏ, chỉ trừ lại Một, Thượng Đế.

- Tuy nhiên, ước vọng đối với mẹ không thể bị loại tuyệt khỏi những trái tim người...

> Trong Cơ Đốc giáo, Mẹ được tượng trưng bằng Giáo hội, bằng Thánh nữ đồng trinh.

> Ngay trong Tân giáo, bà mẹ vẫn tàng ẩn:

+ Luther lập ra nguyên tắc chủ yếu rằng: con người không làm được gì để tạo ra tình yêu của Chúa.

> Tình yêu của Chúa là ân sủng, thái độ tôn giáo là phải có niềm tin đối với ân sủng này và phải làm cho mình nhỏ lại và yếu ớt.

- Có thể thấy giáo lý Cơ Đốc về những việc thiện thuộc khuôn hình phụ hệ: tôi có thể chiếm được tình yêu của cha bằng vào sự phục tùng và thoả mãn những đòi hỏi của ông.

- Giáo lý của Luther, trái lại, mặc dù có những đặc tính phụ hệ rõ rệt, mang trong đó một yếu tố mẫu hệ tiềm tàng: tình yêu của mẹ không thể mua chuộc được, tất cả những gì tôi có thể làm là để có đức tin và biến đổi thành đứa con yếu ớt bất lực.

+ Điểm đặc biệt trong đức tin của Luther là khuôn mặt mẹ bị thay đổi bằng khuôn mặt cha trong khuôn hình biểu lộ - dù chắc chắn được yêu bởi mẹ, mối hoài nghi mãnh liệt và hy vọng chống lại hy vọng nhắm đến tình yêu vô điều kiện do người cha đã trở thành sắc thái nổi bật nhất. (Liên hệ đến hình tượng Quan Thế Âm Bồ tát).

- Trong khía cạnh phụ hệ, tôi yêu Chúa như một người Cha: người trách phạt và tưởng thưởng...

- Trong khía cạnh mẫu hệ, tôi yêu Chúa như Bà Mẹ bao dung: tôi có niềm tin ở tình yêu của bà, không kể tôi là gì...bất kể điều gì xảy ra cho tôi, bà sẽ giúp tôi, cứu rỗi tôi, tha thứ tôi...

> Khỏi phải nói, tình yêu của tôi đối với Chúa và tình yêu của Chúa đối với tôi không thể tách rời nhau. (Vì thực chất đây là phương cách cảm nghiệm hợp nhất để vượt qua ly cách - cảm nghiệm bao nhiêu thì phần thưởng bấy nhiêu/mặc dầu nó có phải là ảo tưởng nhất thời hay không?).

- Một yếu tố khác để xác định bản chất của tình yêu Chúa là trình độ trưởng thành mà cá nhân đạt được từ đó.

(continued)